Miso Clinic · Chuyên mục lâm sàng

Filler dây chằng giữ — bằng chứng thật sự đi được đến đâu

Thay vì bù thể tích, một lượng nhỏ được đặt ngay tại những điểm mà khuôn mặt vẫn còn được neo giữ, và mô được nói là kéo trở lên. Về hướng thì đây là một câu chuyện hợp lý. Chỉ có điều kỹ thuật này hiện được bao nhiêu dữ liệu chống đỡ lại là một câu hỏi riêng, và mấy năm gần đây câu hỏi đó trở nên khó trả lời hơn chứ không dễ hơn.

Chuyên mục lâm sàng Đọc khoảng 11 phút Tháng 9 năm 2026 Miso Clinic, Daegu · BS. Lee Chi-Hak

Kết luận trước

Tiêm filler nhắm vào dây chằng giữ là một kỹ thuật có bằng chứng mỏng. Báo cáo được dẫn nhiều nhất là loạt ca 45 người, không có nhóm đối chứng, chỉ đánh giá tổng thể ở mốc ba tháng (Cohen và cộng sự, 2020). Chúng tôi không tìm được thử nghiệm nào phân nhóm ngẫu nhiên kỹ thuật này so với cách tiêm thông thường. Hơn nữa, chính phần giải phẫu dây chằng mà kỹ thuật này giả định vẫn đang được tranh luận, và đã tích lũy dữ liệu cho thấy acid hyaluronic đặt ở tầng giữa mặt tồn tại lâu hơn mức thường được cho. Vì vậy Miso Clinic trình bày kỹ thuật này như một lựa chọn không bị cấm cũng chưa được kiểm chứng, nằm thấp trên thang bằng chứng, và trước khi tiêm chúng tôi nói trước có thể hoàn lại được không và sẽ tồn tại bao lâu.

Filler dây chằng giữ chỉ điều gì

Dây chằng giữ (retaining ligament) là tên gọi cho những cấu trúc sợi được cho là neo da và mô mềm của mặt vào xương hoặc vào mạc sâu. Những dây chằng được nhắc tên nhiều nhất nằm ở vùng gò má, phía trước cơ cắn, vùng xương hàm dưới và quanh cơ vòng mắt. Điểm khởi đầu của kỹ thuật này là khi các cấu trúc ấy lỏng đi theo tuổi, mô gấp xuống dọc theo một đường nhất định chứ không xẹp đều.

Vì thế các thủ thuật mang tên “filler dây chằng giữ”, “filler dây chằng” hay “filler nâng cơ” được mô tả là nhằm tạo ra một hướng chứ không phải lấp một chỗ hõm. Tuy nhiên đây là những tên gọi tiếp thị, không phải tên của một kỹ thuật đã được chuẩn hóa. Trong phạm vi chúng tôi xác minh được, không tồn tại một quy trình chuẩn nào được định nghĩa dưới tên “filler dây chằng giữ” — tiêm những điểm nào, bao nhiêu mL, ở độ sâu nào.

Góc nhìn bù thể tích và góc nhìn dây chằng
Góc nhìn bù thể tíchGóc nhìn dây chằng giữ
Xem điều gì là vấn đềThể tích giảm nên bị hõmCấu trúc neo giữ đã lỏng nên mô tụt xuống
Tiêm vào đâuChỗ trông có vẻ hõmKhông phải chỗ đã tụt mà phía trên nó, nơi mô vẫn còn dính
Tiêm bao nhiêuBằng mức bị hõmLượng nhỏ chia ra nhiều điểm
Lấy gì làm thành côngThể tích đã được bù chưaHướng của một đường có đổi hay không
Độ dày của bằng chứngCó vùng đã có thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứngLoạt ca 45 người · không nhóm đối chứng

Dòng cuối cùng chính là lý do của bài này. Hai góc nhìn không phân định bằng bên nào nghe hợp lý hơn mà bằng độ dày của dữ liệu đứng sau. Khác biệt giữa filler và booster được viết riêng trong filler và booster khác nhau ở đâu.

Bằng chứng của kỹ thuật này hiện đi đến đâu

Trong số các tài liệu bàn về cách tiêm theo góc nhìn dây chằng giữ, được dẫn rộng nhất là báo cáo mà Cohen và cộng sự công bố trên Journal of Cosmetic Dermatology năm 2020. Bài này mô tả việc tính hướng vector rồi tiêm dưới mạc, trên tiền đề giải phẫu rằng sự lỏng của dây chằng hốc mắt, gò má và cơ cắn lần lượt góp phần làm sa cung mày, làm sâu rãnh mũi má và làm xệ đường viền hàm.

Báo cáo đó là loạt ca 45 người, không có nhóm đối chứng, và chỉ đánh giá tổng thể ở mốc ba tháng. Không phân nhóm ngẫu nhiên, không làm mù, không có nhóm so sánh. Đây là thiết kế nằm ở bậc thấp nhất trong phân loại bằng chứng. Điều này không có nghĩa kết quả là sai, mà có nghĩa thiết kế như vậy không thể tách “tốt lên nhờ thủ thuật” khỏi “trông như vậy khi thời gian trôi qua”.

Chúng tôi cũng ghi lại những gì không tìm được. Chúng tôi không tìm được thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên giữa cách tiêm nhắm dây chằng và cách tiêm thông thường. Chúng tôi không tìm được thử nghiệm lấy độ chảy xệ làm tiêu chí chính để kiểm chứng kỹ thuật này. Chúng tôi cũng không xác minh được nghiên cứu nào theo dõi riêng thời gian duy trì của kỹ thuật này.

Cùng tài liệu ấy, chúng tôi đã dẫn với cùng những giới hạn trong bài về chảy xệ vùng má, rãnh mũi máchảy xệ khuôn mặt. Không viết khác nhau ở mỗi trang là nguyên tắc của chúng tôi.

Điều đã thay đổi ① Hình vẽ dây chằng không phải là điều đã chốt

Lời giải thích “nhắm vào dây chằng” đứng trên tiền đề rằng đã xác định được dây chằng ở đâu và có hình thế nào. Nhưng tiền đề ấy đang lung lay.

Lấy dây chằng rãnh lệ làm ví dụ. Từ khi Wong và cộng sự mô tả dây chằng này trên 48 nửa mặt thi thể vào năm 2012, nó trở thành hình vẽ chuẩn cho vùng này. Thế nhưng một nghiên cứu micro-CT năm 2018 trên 11 thi thể và 22 mẫu báo cáo rằng đó có thể không phải một dây chằng riêng biệt mà là một phức hợp liền một khối với dây chằng giữ cơ vòng mắt. Ngoài ra nghiên cứu mô học phản bác chính sự tồn tại của một dây chằng thật cũng đang được dẫn — nghiên cứu này chúng tôi chỉ xác minh qua dẫn nguồn cấp hai.

Tóm lại, tranh luận giải phẫu vẫn chưa kết thúc. Hình vẽ thường được đưa ra khi tư vấn — dây chằng dính ở đây, chỗ này lỏng ra — là một mô hình cho tiện, không phải sự thật đã được chốt. Chúng tôi ghi cả điều này ra vì hình vẽ càng trông dứt khoát thì độ chính xác của thủ thuật cũng càng nghe dứt khoát.

Nội dung chi tiết hơn về vùng dưới mắt được viết trong bài về hõm dưới mắt.

Điều đã thay đổi ② “Vài tháng là hết” không khớp lắm

Một trong những lý do filler dây chằng giữ được nói là “lượng ít nên không nặng gánh” là tiền đề rằng dù sao vài tháng cũng sẽ tan hết. Dữ liệu ở vùng dưới mắt đã làm tiền đề ấy lung lay.

  • Trong tổng quan hệ thống 23 nghiên cứu · 2.048 người, acid hyaluronic vùng dưới mắt còn lại 85% thể tích ở mốc 15 tháng. Cũng trong tổng quan đó không có thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng nào, biến cố bất lợi 30,2% (466/1.545), bất thường đường viền 7,57%, phải dùng hyaluronidase 5,18%
  • Trong nghiên cứu theo dõi 155 người trung bình 785 ± 536 ngày, mức cải thiện ở 18 tháng không khác biệt về mặt thống kê so với 6 tháng (p = 0,57). Nghĩa là duy trì lâu, và đồng thời cũng nghĩa là nó vẫn còn ở đó

Những con số này là dữ liệu vùng dưới mắt. Dữ liệu đo theo cùng cách xem filler đặt ở điểm dây chằng gò má hay cơ cắn còn lại bao lâu thì chúng tôi không tìm được. Vùng khác nhau thì chuyển động và tưới máu cũng khác, nên không thể mang nguyên sang đọc. Nhưng vẫn còn lại sự thật rằng “6~12 tháng là tan hết” đã không đúng ở ít nhất một vùng.

Trong thực hành, câu này chỉ có một hàm ý. Đặt lịch tiêm lại mỗi sáu tháng theo tờ lịch thì có thể bị tích lũy. Thời điểm tiêm lại nên quyết theo trạng thái mô hơn là theo ngày tháng. Cách chúng tôi định số lần được viết trong bài cần làm bao nhiêu lần.

Điều đã thay đổi ③ Cùng một độ sâu lại là độ sâu khác ở người khác

Kỹ thuật nhắm dây chằng là kỹ thuật nhạy với độ sâu. Mô tả “tiêm dưới mạc” giả định vị trí của mạc nhìn chung là ổn định, nhưng dữ liệu đo thực tế lại không như vậy.

  • Trong nghiên cứu hồi cứu dữ liệu siêu âm của 200 người đã làm thủ thuật trẻ hóa tầng dưới mặt (trung bình 41,1 ± 13,7 tuổi), ranh giới mạc nông và sâu nằm cạn hơn ở người lớn tuổi, nam giới và người gầy. Cũng trong nghiên cứu đó, lớp mỡ nông mỏng đi theo tuổi
  • Trong nghiên cứu đo 30 thi thể đã cố định bằng máy quét ba chiều, da mặt là 2,1 ± 0,4 mm và mỡ nông là 5,2 ± 1,9 mm. Độ lệch chuẩn của mỡ nông vượt một phần ba giá trị trung bình — nghĩa là khác nhau rất nhiều giữa từng người. Dữ liệu thi thể đã cố định có giới hạn riêng

Vì vậy con số “dưới mạc mấy mm” không phải giá trị dùng được mà không cần nhìn người trước mặt. Ở người gầy hay người lớn tuổi, cùng một độ sâu lại có nghĩa là một tầng sâu hơn. Đó là lý do kỹ thuật này được nói là phụ thuộc người thực hiện một cách đặc biệt.

Vậy chúng tôi cẩn thận điều gì — mạch máu

Những vị trí mà dây chằng giữ được nhắc tên trùng với những chỗ sâu và có động mạch có tên đi qua. Vì vậy nguy cơ quan trọng nhất của kỹ thuật này không phải là kết quả kém mà là tai biến mạch máu.

  • Trong tổng quan tập hợp các ca mù, phân bố vị trí của 48 ca mới từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 9 năm 2018 là mũi 27 ca (56,3%), gian mày 13, trán 9, rãnh mũi má 7, má 2, mi trên 1, trong đó mù hoàn toàn 25 ca (52%). Tầng giữa mặt không phải vị trí xảy ra thường gặp nhất, nhưng đã có ca được báo cáo
  • Cùng nhóm tác giả viết rằng “đã có ca tổn thương mạch với cannula nhiều cỡ khác nhau”, khuyến nghị dùng 25G trở lên và cho rằng 27G trở xuống có khả năng xuyên thành mạch cao hơn
  • Con số tần suất tắc mạch thường được dẫn (kim 1 trên 6.410 ca, cannula 1 trên 40.882 ca) đến từ khảo sát 370 bác sĩ da liễu trả lời theo ký ức về mười năm trước đó, không phải thử nghiệm so sánh. Trong đó lẫn cả khả năng vốn đã chọn cannula cho những vùng nguy hiểm

“Lượng ít nên an toàn hơn” là câu không đứng được. Tai biến mạch máu không do tổng lượng quyết định mà do một mũi tiêm có vào trong mạch hay không. Ngay cả 0,1 mL vào trong động mạch cũng thành tai biến. Việc chọn dụng cụ được viết riêng trong kim hay cannula.

Phạm vi của câu “có thể tan được”

Filler acid hyaluronic là vật liệu hoàn lại được ở điểm có thể làm tan bằng hyaluronidase. Đây cũng là cơ sở an tâm được nêu nhiều nhất khi kỹ thuật này được đề xuất. Tuy nhiên cần biết chính xác phạm vi.

  • Ngay giữa các vật liệu hoàn lại được, mức độ tan cũng khác nhau nhiều. Trong phạm vi chúng tôi tổng hợp, khác biệt giữa các sản phẩm lên tới 12,5 lần — gel càng chắc và càng nhiều liên kết chéo thì càng khó tan
  • Vật liệu không phải acid hyaluronic thì không tan theo cách này. Trong số sản phẩm được giới thiệu để tiêm vào điểm dây chằng có cả loại không phải acid hyaluronic, nên phải xác định trước là tiêm cái gì
  • Bản thân việc làm tan không phải thủ thuật vô hại. Nó cũng tác động lên acid hyaluronic vốn có trong mô, và phản ứng dị ứng được báo cáo tuy hiếm

Nội dung chi tiết được viết trong bài về hyaluronidase. Ghi lại tên sản phẩm và thành phần trước khi tiêm là điều giúp ích nhiều nhất về sau.

Về phạm vi cấp phép, điều chúng tôi xác minh được và không

Tại Hàn Quốc, filler acid hyaluronic được cấp phép như thiết bị y tế chứ không phải thuốc. Trong phạm vi chúng tôi kiểm tra, mục đích sử dụng được cấp phép trong nước được viết theo hướng cải thiện nếp nhăn và bù thể tích.

Sản phẩm được cấp phép với mục đích sử dụng là “nâng dây chằng giữ” hay “cải thiện chảy xệ” thì chúng tôi không xác minh được. Xin đọc là chúng tôi chưa tới được, chứ không phải là không tồn tại. Nhưng trong thực hành câu này có một hàm ý — hiệu quả mong đợi từ kỹ thuật này là phán đoán của người thực hiện, không phải hiệu quả được bảo đảm bởi mục đích sử dụng đã cấp phép.

Số cấp phép sản phẩm và số thẩm định quảng cáo y tế là hai số khác nhau; phần phân biệt được viết trong bài về các số cấp phép. Phạm vi phê duyệt ở nước ngoài có thể khác phạm vi cấp phép trong nước, nên không nên suy ra cấp phép Hàn Quốc chỉ từ tài liệu nước ngoài.

Tổng hợp — điều đã xác nhận và điều chưa

Tình trạng dữ liệu quanh filler dây chằng giữ
Đã xác nhậnChưa xác nhận
Có loạt ca 45 người mô tả cách tiêm theo góc nhìn dây chằngThử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên kỹ thuật này so với cách tiêm thông thường
Có nghiên cứu thi thể mô tả dây chằng rãnh lệ (48 nửa mặt)Kết luận về việc dây chằng có là cấu trúc riêng biệt — nghiên cứu micro-CT đã nêu khả năng là một phức hợp
Vùng dưới mắt còn 85% thể tích ở 15 tháng, 18 tháng không khác 6 tháng (p = 0,57)Dữ liệu đo filler còn lại bao lâu ở điểm dây chằng gò má · cơ cắn
Dữ liệu siêu âm cho thấy ranh giới mạc cạn hơn ở người lớn tuổi, nam giới, người gầy (200 người)Tiêu chuẩn đã được kiểm chứng để định độ sâu tiêm theo thể trạng
Ở tầng giữa mặt cũng có ca mù được báo cáo (rãnh mũi má 7, má 2 trong 48 ca mới)Mẫu số — số ca theo dụng cụ và theo vùng — nên không đọc được như so sánh nguy cơ
Acid hyaluronic hoàn lại được bằng hyaluronidase, khác biệt giữa sản phẩm tới 12,5 lầnNghiên cứu liều–đáp ứng kiểm chứng liều phù hợp và ngưỡng trên ở vùng dây chằng

Trình tự chúng tôi làm trong phòng khám

  • Trước tiên tách chuyện tụt xuống và chuyện hõm đi. Nếu hình dáng đổi nhiều khi nằm xuống thì gợi ý dịch chuyển vị trí; nếu nằm xuống vẫn trông hõm thì gợi ý thể tích. Phần lớn có cả hai, và bản thân cách khám này không phải công cụ đã được kiểm chứng
  • Xem có đường ranh không. Nếu gấp lại ở một đường nhất định thì có yếu tố dây chằng, và khi đó chúng tôi nói trước giới hạn của những gì thủ thuật với tới được
  • Không che bậc bằng chứng. Khi trình bày góc nhìn dây chằng, chúng tôi nói kèm rằng tài liệu đứng sau là loạt ca 45 người
  • Đặt vật liệu hoàn lại được lên bàn trước để bàn, và ghi lại tên sản phẩm cùng thành phần
  • Không định lịch tiêm lại theo tờ lịch, vì có dữ liệu cho thấy filler ở vùng này tồn tại lâu hơn mức thường được cho
  • Định trước tiêu chí đánh giá từ trước khi làm. Ảnh cùng ánh sáng, cùng góc, cùng biểu cảm là mốc so. Vì thang đo đã kiểm chứng cho bản thân độ chảy xệ còn thiếu, chúng tôi ghi kèm các chỉ số lân cận đã được kiểm chứng như bậc rãnh mũi má

Cách chúng tôi phân tách độ chảy xệ được viết trong bài về giảm độ đàn hồi, còn cách tiếp cận theo tầng cho toàn bộ khuôn mặt ở bài chảy xệ khuôn mặt.

Câu hỏi thường gặp

Filler dây chằng giữ có thật sự nâng khuôn mặt lên không?
Có tài liệu báo cáo như vậy nhưng bậc bằng chứng thấp. Tài liệu được dẫn rộng nhất là loạt ca 45 người, không có nhóm đối chứng, chỉ đánh giá tổng thể ở mốc ba tháng. Chúng tôi không tìm được thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên kỹ thuật này so với cách tiêm thông thường. Vì vậy Miso Clinic trình bày nó như một lựa chọn có bằng chứng mỏng chứ không phải phương pháp đã được kiểm chứng.
Nói rằng tìm đúng vị trí dây chằng rồi tiêm có đúng không?
Cần xác minh từ tiền đề. Nghiên cứu thi thể mô tả dây chằng rãnh lệ đã trở thành hình vẽ chuẩn, nhưng nghiên cứu micro-CT trên 11 thi thể và 22 mẫu báo cáo rằng đó có thể không phải dây chằng riêng biệt mà là một phức hợp liền một khối với dây chằng giữ cơ vòng mắt. Nghiên cứu mô học phản bác sự tồn tại của dây chằng thật cũng đang được dẫn. Tranh luận giải phẫu chưa kết thúc, nên hình vẽ dây chằng thấy khi tư vấn là mô hình cho tiện chứ không phải sự thật đã chốt.
Chỉ tiêm lượng nhỏ thì có an toàn hơn không?
Tổng lượng và tai biến mạch máu là hai chuyện khác nhau. Tai biến mạch máu không do tổng lượng đã tiêm quyết định mà do một mũi tiêm có vào trong mạch hay không, nên ngay cả 0,1 mL vào trong động mạch cũng thành tai biến. Trong tổng quan tập hợp các ca mù, trong 48 ca mới từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 9 năm 2018 có 7 ca rãnh mũi má và 2 ca má thuộc tầng giữa mặt. Tầng giữa mặt không phải vị trí thường gặp nhất, nhưng ca đã được báo cáo.
Vài tháng là hết nên không có gì phải lo phải không?
Tùy vùng, và ít nhất ở vùng dưới mắt câu đó đã không đúng. Tổng quan hệ thống 23 nghiên cứu 2.048 người thấy còn 85% thể tích ở mốc 15 tháng, và nghiên cứu theo dõi 155 người trung bình 785 ngày thấy mức cải thiện ở 18 tháng không khác biệt về mặt thống kê so với 6 tháng. Dữ liệu đo theo cùng cách ở điểm dây chằng gò má hay cơ cắn thì chúng tôi không tìm được. Vì vậy thời điểm tiêm lại nên quyết theo trạng thái hơn là theo tờ lịch.
Nghe nói không thích thì làm tan là được?
Nếu là acid hyaluronic thì có thể hoàn lại bằng hyaluronidase. Tuy nhiên mức độ tan khác nhau theo từng sản phẩm: trong phạm vi chúng tôi tổng hợp, khác biệt lên tới 12,5 lần, và gel càng chắc, càng nhiều liên kết chéo thì càng khó tan. Vật liệu không phải acid hyaluronic không tan theo cách này, nên phải xác định trước là tiêm cái gì. Bản thân việc làm tan cũng tác động lên acid hyaluronic vốn có trong mô, và phản ứng dị ứng được báo cáo tuy hiếm.
Filler dây chằng giữ có phải thủ thuật đã được cấp phép ở Hàn Quốc không?
Ở Hàn Quốc filler acid hyaluronic được cấp phép như thiết bị y tế, và trong phạm vi chúng tôi kiểm tra thì mục đích sử dụng được viết theo hướng cải thiện nếp nhăn và bù thể tích. Sản phẩm được cấp phép với mục đích sử dụng là nâng dây chằng giữ hay cải thiện chảy xệ thì chúng tôi không xác minh được. Điều đó nghĩa là chúng tôi chưa tới được chứ không phải là không tồn tại, nhưng cũng nghĩa là hiệu quả mong đợi từ kỹ thuật này không được bảo đảm bởi một mục đích sử dụng đã cấp phép.
So với căng chỉ thì bên nào tốt hơn?
Chúng tôi không có dữ liệu để so sánh. Chúng tôi không tìm được thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên giữa nhóm làm căng và nhóm nâng đỡ ở vùng má. Vì vậy không có cơ sở để nói bên nào tốt hơn, và chúng tôi bàn để quyết dựa trên trạng thái mô cùng việc có hoàn lại được hay không.
Phòng khám khác đề xuất filler dây chằng, đó có phải lời khuyên sai không?
Chúng tôi không có cơ sở để nói như vậy. Kỹ thuật này không bị cấm cũng chưa được kiểm chứng; đó là một lựa chọn nằm thấp trên thang bằng chứng. Tuy vậy khi nghe đề xuất, ba điều nên xác định: dùng sản phẩm nào, có đúng là acid hyaluronic không, và sẽ đánh giá kết quả vào lúc nào bằng cái gì.

Cơ sở y tế biên soạn

Bài viết này do Bác sĩ Lee Chi-Hak, giám đốc y khoa Phòng khám Miso tại Daegu, Hàn Quốc biên soạn và rà soát. Các nghiên cứu được trích dẫn trong bài đều được ghi kèm cả kết luận của nguyên bản lẫn giới hạn của nó, và những gì chưa xác minh được thì chúng tôi ghi là chưa xác minh được.

Phòng khám Miso
Giám đốc y khoaBác sĩ Lee Chi-Hak
Địa chỉTầng 4, tòa nhà Bombom, 125 Dongdeok-ro, Jung-gu, Daegu, Hàn Quốc (lối ra số 1 ga Kyungpook National University Hospital)
Điện thoại+82-53-428-2700
Giờ khámNgày thường 11:00~19:00 (nghỉ trưa 13:00~14:00) / Thứ Bảy 10:00~16:00 (khám liên tục, không nghỉ trưa) / Chủ Nhật · ngày lễ nghỉ
Chuyên mục lâm sàngXem toàn bộ bài viết
Thư viện tài liệu lâm sàngXem toàn bộ tài liệu về chất kích thích tạo collagen · thiết bị nâng cơ

Tài liệu tham khảo

  1. Kỹ thuật tiêm theo góc nhìn dây chằng giữ — Cohen S, Artzi O, Mehrabi JN, Heller L, Journal of Cosmetic Dermatology 2020;19(8):1948–1954, PMID 32543088, DOI 10.1111/jocd.13546. Loạt ca 45 người · không nhóm đối chứng · đánh giá tổng thể ở mốc ba tháng. Báo cáo kỹ thuật dựa trên tiền đề rằng sự lỏng của dây chằng hốc mắt, gò má và cơ cắn lần lượt góp phần làm sa cung mày, rãnh mũi má và xệ đường viền hàm. Thiết kế nằm thấp trên thang bằng chứng.
  2. Mô tả giải phẫu chuẩn — Wong CH, Hsieh MKH, Mendelson B, “The Tear Trough Ligament: Anatomical Basis for the Tear Trough Deformity”, Plastic and Reconstructive Surgery 2012;129(6):1392 — 48 nửa mặt thi thể. Chúng tôi xác minh được phần tóm tắt và các số liệu cốt lõi, chưa tới được toàn văn.
  3. Tranh luận về dây chằng — O J, Kwon HJ, Choi YJ, Cho TH, Yang HM, Scientific Reports 2018;8 — micro-CT 11 thi thể · 22 mẫu, “có thể là một phức hợp dây chằng chứ không phải hai dây chằng riêng biệt”. Nghiên cứu mô học phản bác sự tồn tại của dây chằng thật chỉ được xác minh qua dẫn nguồn cấp hai.
  4. Tổng quan hệ thống về filler vùng dưới mắt — Trinh LN, Grond SE, Gupta A, “Dermal Fillers for Tear Trough Rejuvenation: A Systematic Review”, Facial Plastic Surgery 2022;38:228 — 23 nghiên cứu · 2.048 người, không có thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng, theo dõi trung bình 13,7 tháng, trung bình 0,47 mL mỗi bên, còn 85% thể tích ở 15 tháng, biến cố bất lợi 30,2% (466/1.545), bất thường đường viền 7,57%, cần hyaluronidase 5,18%. Là dữ liệu vùng dưới mắt.
  5. Theo dõi dài hạn — Puyana C & Montes JR, “Long-term effects of tear trough hyaluronic acid filler”, Journal of Clinical and Aesthetic Dermatology 2025;18(11):44 — 155 người, trung bình 785 ± 536 ngày, cải thiện 1 bậc 68% · 2 bậc 14%, 18 tháng so với 6 tháng p = 0,57. Là dữ liệu hồi cứu và là dữ liệu vùng dưới mắt.
  6. Dữ liệu siêu âm về cấu trúc tầng của tầng dưới mặt — Kwon SH, Ahn GY, Lew BL, Shin JW, Na JI, Huh CH, Dermatologic Surgery 2022;48(5):527–531, PMID 35093961, DOI 10.1097/DSS.0000000000003393. 200 người, hồi cứu (trung bình 41,1 ± 13,7 tuổi). Mỡ nông mỏng đi theo tuổi, và ranh giới mạc nông · sâu nằm cạn hơn ở người lớn tuổi, nam giới và người gầy.
  7. Độ dày da mặt và mỡ nông — Lee KW, Yoon JH, Kim JS, Hu KS, Kim HJ, Clinical Anatomy 2021;34(7):1050–1058, PMID 33583088, DOI 10.1002/ca.23726. 30 thi thể đã cố định của Hàn Quốc · Thái Lan, máy quét ba chiều. Da 2,1 ± 0,4 mm, mỡ nông 5,2 ± 1,9 mm. Là dữ liệu thi thể đã cố định.
  8. Phân bố vị trí các ca mù và cỡ cannula — Beleznay K, Carruthers JDA, Humphrey S, Carruthers A, Jones D, Aesthetic Surgery Journal 2019;39(6):662–674 — trên 48 ca mới từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 9 năm 2018: mũi 27 (56,3%) · gian mày 13 · trán 9 · rãnh mũi má 7 · má 2 · mi trên 1, mù hoàn toàn 25 (52%). Cùng bài này khuyến nghị cannula 25G trở lên. Là tập hợp ca không có mẫu số nên không đọc được như so sánh nguy cơ.
  9. Tần suất tắc mạch — Alam M và cộng sự, JAMA Dermatology 2021;157(2):174–180 — kim 1 trên 6.410 ca, cannula 1 trên 40.882 ca. Là khảo sát 370 bác sĩ da liễu trả lời theo ký ức về mười năm trước đó, không phải thử nghiệm so sánh. Các tác giả cũng nêu giới hạn rằng đây là số ước lượng và không hiệu chỉnh theo từng bệnh nhân.
  10. Phạm vi hoàn lại bằng hyaluronidase (khác biệt 12,5 lần giữa sản phẩm, nội dung cấp phép trong nước, dị ứng) được tổng hợp cùng nguồn cấp một trong bài về hyaluronidase.
  11. Những điều không xác minh được — ① thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên giữa cách tiêm nhắm dây chằng và cách tiêm thông thường ② thử nghiệm lấy độ chảy xệ làm tiêu chí chính ③ dữ liệu đo filler còn lại ở điểm dây chằng gò má · cơ cắn ④ nghiên cứu liều–đáp ứng kiểm chứng ngưỡng liều cho vùng này ⑤ tiêu chuẩn đã kiểm chứng về độ sâu tiêm theo thể trạng · tuổi ⑥ sản phẩm trong nước được cấp phép với mục đích sử dụng “nâng dây chằng giữ”.
  12. Quy định về quảng cáo y tế — Điều 56 khoản 2 “Luật Y tế” Hàn Quốc cấm quảng cáo bằng lời kể trải nghiệm điều trị, so sánh với cơ sở y tế khác và các cách diễn đạt ở mức tối cao. Đó là lý do bài này không có những cách nói như “giỏi nhất” hay “tốt nhất”, không so sánh với cơ sở khác, không ghi giá hay giảm giá.

Mọi bài viết trong chuyên mục này nhằm cung cấp thông tin chung và không thay thế cho chẩn đoán hay điều trị y khoa. Hiệu quả và tác dụng không mong muốn của thủ thuật có thể biểu hiện khác nhau tùy theo tình trạng da, độ tuổi và bệnh nền của từng người, và không bảo đảm kết quả giống nhau cho mọi người. Việc có thực hiện thủ thuật hay không nhất định phải được quyết định thông qua buổi khám trực tiếp với nhân viên y tế.

← Chuyên mục lâm sàng · Thư viện tài liệu lâm sàng · Trang chủ Phòng khám Miso

한국어 · English · 日本語 · 简体中文 · Español · Tiếng Việt · ภาษาไทย · Bahasa Indonesia