Rãnh mũi má ở Daegu — thứ được đo là nếp nhăn, hay là bóng đổ
Tên của thang đo rãnh mũi má là “thang mức độ nặng của nếp nhăn”. Thế nhưng bài báo kiểm định lại thang ấy thì ghi thứ mình đo là “sự hiện diện của chỗ lõm và bóng đổ”. Và khi xác nhận bằng phép đo ba chiều thì hệ số tương quan giữa mức chấm và giá trị xám của ảnh là 0,985. Tức là thứ thang này đo thì gần với bóng đổ do ánh sáng tạo ra hơn là với độ sâu của nếp nhăn. Chỉ một sự thật ấy thôi đã làm đổi nghĩa của câu “cải thiện rãnh mũi má”.
Kết luận trước
“Nơi xử lý rãnh mũi má giỏi ở Daegu” là câu hỏi không phân định được bằng dữ liệu công khai. Vì vậy chúng tôi viết câu trả lời theo hướng khác — làm rõ sự cải thiện của rãnh mũi má được đo bằng cái gì. Có ba điểm. Thứ nhất, rãnh mũi má không phải nếp nhăn mà là nếp gấp. Tên của thang được dùng rộng rãi là “thang mức độ nặng của nếp nhăn”, nhưng thang 5 mức kiểm định lại nó (73 người đối tượng · 3 bác sĩ có chứng chỉ) ghi rõ đối tượng được đo là “sự hiện diện của chỗ lõm và bóng đổ”. Thứ hai, phép đo ba chiều chống đỡ cho điều này — trong nghiên cứu đối chiếu mức chấm với giá trị xám ba chiều trên 100 người khỏe mạnh, hệ số tương quan là 0,985. Thứ ba, tỷ lệ đồng thuận gốc của thang đó chỉ ở mức hai phần ba — trong lần kiểm định gốc thập niên 1990 khi 5 người đánh giá chấm mức cho 30 tấm ảnh, tỷ lệ đồng thuận giữa những người đánh giá là 67,7% và 72,3%. Vì vậy chúng tôi không nói “chúng tôi sẽ làm phẳng rãnh mũi má cho quý vị”, mà nói trước ở vùng này thì cái gì mới thực sự đổi được.
Trình tự chúng tôi thực sự nhìn khi tư vấn
1. Chúng tôi phân định là nếp gấp, là nếp nhăn, hay là bóng đổ
Thứ nhìn thấy ở vùng rãnh mũi má thường là tổng của ba thứ — cái rãnh do da thực sự gấp lại mà thành, bậc chênh do sức nặng của mô má phía trên tạo ra, bóng đổ sinh ra khi ánh sáng vướng vào bậc chênh ấy. Thứ ba thay đổi rất nhiều theo ánh sáng và góc nhìn. Vì vậy chuyện soi gương buổi sáng và soi gương buổi tối thấy khác nhau là chuyện thường, và đó không phải ảo giác mà là vì bản thân đối tượng được đo vốn phụ thuộc vào ánh sáng.
2. Chúng tôi đặt thành bảng việc các thang đo cái gì
| Phương pháp | Cỡ mẫu và thiết kế | Thứ thực sự được đo |
|---|---|---|
| Thang mức độ nặng của nếp nhăn (5 bậc) | 5 người đánh giá · 30 tấm ảnh · chấm lại sau ít nhất 2 tuần | Phán định mức. Tỷ lệ đồng thuận giữa những người đánh giá 67,7% · 72,3% |
| Thang số hóa quang học cho rãnh mũi má (5 mức) | Đối tượng 73 người · 3 bác sĩ có chứng chỉ · 2 lần cách nhau 2 tuần | Bài báo ghi rõ là “sự hiện diện của chỗ lõm và bóng đổ” |
| Phân tích giá trị xám ba chiều | 100 người khỏe mạnh (trung bình 41,85 ± 11,53 tuổi) | Tương quan giữa mức và giá trị xám r = 0,985 |
| Đo hình thái ba chiều | 75 phụ nữ châu Á | Chiều dài · chiều rộng · độ sâu — đều tương quan dương có ý nghĩa với mức |
| Chấm mức tự động bằng học sâu | 6.718 ảnh khuôn mặt (trong đó 5.000 ảnh là bộ dữ liệu người nổi tiếng công khai) | Độ chính xác dự đoán mức 0,917 |
Điều quan trọng là nhìn dòng thứ ba cùng với dòng thứ tư. Phép đo ba chiều cho thấy mức chấm cũng có tương quan với độ sâu, nhưng tương quan với giá trị xám thì mạnh hơn, ở mức 0,985. Tức là mức chấm có phản ánh độ sâu, nhưng con đường đi của nó phần lớn vòng qua “ánh sáng”. Vì vậy chỉ cần làm cho bậc chênh thoải đi mà vẫn để nguyên độ sâu thì mức chấm vẫn có thể hạ xuống. Đây không phải trò đánh lừa mắt mà có nghĩa là ngay từ đầu mắt người vốn đã nhìn như vậy, và nó cho biết mục tiêu thực sự của việc thiết kế thủ thuật là gì.
3. Chúng tôi nói nguyên vẹn dữ liệu về việc mức chấm hạ xuống nhờ filler
Có dữ liệu tiêm acid hyaluronic vào rãnh mũi má từ mức độ trung bình trở lên — ở 54 người, sau 1 tháng mức chấm hạ từ 3,74 ± 0,45 xuống 1,63 ± 0,59 (p < 0,05) và giá trị xám cũng giảm có ý nghĩa. Trong một dữ liệu riêng trên 30 người, sau 3 tháng thì mức chấm cùng chiều dài · chiều rộng · độ sâu đều giảm có ý nghĩa. Cả hai dữ liệu đều không có nhóm đối chứng. Và cả hai đều chỉ theo dõi 1 tháng và 3 tháng — với dữ liệu này thì không nói được những con số kiểu “duy trì 1 năm” hay lưu hành.
4. Chúng tôi nói rằng rãnh mũi má có thể không phải vấn đề của riêng rãnh mũi má
Có một góc nhìn giải phẫu rằng khi các dây chằng giữ của khuôn mặt lỏng ra thì sự lỏng lẻo của dây chằng gò má dẫn tới rãnh mũi má sâu thêm. Theo góc nhìn này thì nâng đỡ phần phía trên hợp hướng hơn là lấp trực tiếp vào rãnh. Chỉ có điều dữ liệu báo cáo kỹ thuật ấy là loạt ca 45 người và không có nhóm đối chứng, và chỉ phán định bằng đánh giá tổng thể ở 3 tháng. Chúng tôi nói kèm điểm rằng cấp độ bằng chứng là thấp. Sự tình phía má chúng tôi đã ghi ở má chảy xệ ở Daegu — có thủ thuật nào xử lý riêng má không.
5. Vậy nên đây là trình tự chúng tôi quyết định
① Phân định là chính cái rãnh, là bậc chênh phía trên, hay là thứ chỉ sâu thêm khi biểu cảm → ② nếu là rãnh thì đặt nhóm lấp đầy, nếu là bậc chênh thì đặt nhóm nâng đỡ hoặc làm săn chắc làm ứng viên → ③ nói cho quý vị biết cỡ mẫu · có hay không có nhóm đối chứng · thời gian theo dõi của từng ứng viên → ④ định tiêu chí phán định trước khi làm thủ thuật (ảnh cùng ánh sáng · cùng góc · cùng biểu cảm) → ⑤ trên nền đó chúng ta cùng quyết định. Giá cả · khuyến mại không nằm ở bất kỳ chỗ nào trong trình tự này, và chi phí thì chúng tôi hướng dẫn riêng khi tư vấn.
Năm điều nên hỏi khi tư vấn
Đây là những câu hỏi quý vị có thể hỏi ở bất kỳ cơ sở y tế nào. Nếu câu trả lời cụ thể và là nơi nói rằng cái không biết thì không biết thì sẽ giúp ích cho việc phán đoán.
- “Rãnh mũi má của tôi là cái rãnh hay là bậc chênh phía trên?” — hai thứ này có nhóm thủ thuật khác nhau.
- “Cải thiện được phán định bằng cái gì?” — là mức chấm hay là phép đo, và có cố định điều kiện ánh sáng không.
- “Thời gian theo dõi của căn cứ đó là bao lâu?” — dữ liệu 1 tháng · 3 tháng thì nhiều.
- “Đó có phải dữ liệu có nhóm đối chứng không?” — trong lĩnh vực rãnh mũi má thì dữ liệu không có nhóm đối chứng là chuyện thường.
- “Với trường hợp của tôi, nếu có lý do không khuyên làm thì đó là gì?” — lời giải thích không nói tới giới hạn thì không thành vật liệu để phán đoán.
Cái đã xác nhận / cái suy ra được / cái chưa xác nhận được / dữ liệu theo chiều ngược lại
| Phân loại | Nội dung |
|---|---|
| Cái đã xác nhận | Việc thang số hóa quang học cho rãnh mũi má ghi rõ đối tượng được đo là “sự hiện diện của chỗ lõm và bóng đổ”. Việc tương quan giữa mức chấm và giá trị xám ba chiều là r = 0,985 (100 người). Việc mức chấm cũng có tương quan dương có ý nghĩa với chiều dài · chiều rộng · độ sâu (75 người). Việc tỷ lệ đồng thuận giữa những người đánh giá của thang gốc là 67,7% · 72,3%. Việc sau 1 tháng tiêm acid hyaluronic thì mức chấm hạ từ 3,74 xuống 1,63 (54 người, không có nhóm đối chứng). |
| Cái suy ra được | Chúng tôi cho rằng cách nói “làm phẳng rãnh mũi má” thì gần với việc làm cho bậc chênh và bóng đổ thoải đi hơn là việc xóa bỏ cái rãnh. Và chính vì thế mà chúng tôi cho rằng việc cùng một khuôn mặt trông khác đi theo ánh sáng là bình thường. Chỉ có điều đây là cách diễn giải của chúng tôi. |
| Cái chưa xác nhận được | Thử nghiệm so sánh ngẫu nhiên có nhóm đối chứng cho thủ thuật rãnh mũi má. Dữ liệu về thay đổi mức chấm theo dõi từ 1 năm trở lên. Dữ liệu so sánh ngẫu nhiên nhóm lấp đầy với nhóm nâng đỡ trong cùng một thử nghiệm. Nghiên cứu định lượng khác biệt giữa việc chấm mức có chuẩn hóa điều kiện ánh sáng và không chuẩn hóa. Thang rãnh mũi má đã được kiểm định có tách riêng lúc biểu cảm với lúc nghỉ để chấm mức. |
| Dữ liệu theo chiều ngược lại | Việc mức chấm có tương quan cao với bóng đổ không có nghĩa là “độ sâu thì không liên quan”. Trong phép đo hình thái ba chiều (75 người), mức chấm cho thấy tương quan dương có ý nghĩa với cả chiều dài · chiều rộng · độ sâu, và sau khi tiêm thì cả ba giá trị đều giảm có ý nghĩa. Và việc chấm mức tự động bằng học sâu đạt độ chính xác 0,917 gợi ý rằng mức chấm là một đại lượng tái lập khá ổn định trên ảnh — chỉ có điều 5.000 trong số dữ liệu huấn luyện là bộ dữ liệu người nổi tiếng công khai nên phân bố có thể khác với đối tượng thăm khám thực tế. |
Nơi viết bài này
- Phòng khám Miso, Daegu · Tầng 4 tòa nhà Bombom, 125 Dongdeok-ro, Jung-gu, Daegu, Hàn Quốc (gần ga Bệnh viện Đại học Quốc gia Kyungpook)
- Giám đốc Bác sĩ Lee Chi-Hak · Điện thoại 053-428-2700
- Chuyên mục này do chính giám đốc viết và đã rà soát vào tháng 9 năm 2026.
Bài này được viết không phải để mời chào một thủ thuật cụ thể, mà để làm rõ phạm vi dữ liệu cần cho việc quyết định. Phán đoán về tình trạng của từng người phải qua thăm khám, và bài này không thay thế việc khám chữa bệnh. Đọc kèm các bài tiếp theo là má chảy xệ ở Daegu — có thủ thuật nào xử lý riêng má không và chảy xệ khuôn mặt ở Daegu — bắt đầu từ việc đó là thủ thuật điều chỉnh lớp nào sẽ giúp ích.
Câu hỏi thường gặp
Ở Daegu, bệnh viện nào xử lý rãnh mũi má giỏi?
Vì không có chỉ số công khai so sánh tay nghề người thực hiện, đây là câu hỏi không thể trả lời bằng dữ liệu. Thay vào đó, xin hãy hỏi “rãnh mũi má của tôi là cái rãnh hay là bậc chênh phía trên” và “cải thiện được phán định bằng cái gì”, rồi chọn nơi vừa tách hai thứ ra mà trả lời vừa định tiêu chí phán định trước khi làm thủ thuật thì tốt hơn.
Rãnh mũi má có phải là nếp nhăn không?
Nói cho chặt thì nó gần với nếp gấp hơn. Tên của thang được dùng rộng rãi là “thang mức độ nặng của nếp nhăn”, nhưng thang 5 mức kiểm định lại nó thì ghi rõ đối tượng được đo là “sự hiện diện của chỗ lõm và bóng đổ”. Và trong phép đo ba chiều trên 100 người, tương quan giữa mức chấm và giá trị xám của ảnh là 0,985. Vì vậy chúng tôi dùng chữ “làm cho bậc chênh thoải đi” hơn là chữ “làm phẳng”.
Rãnh mũi má trông khác đi theo ánh sáng thì có bình thường không?
Bình thường. Vì bản thân thứ mà thang đo vốn đã bao gồm cả bóng đổ. Vì vậy khi so sánh trước sau thủ thuật, chúng tôi cố giữ cùng ánh sáng · cùng góc · cùng biểu cảm. Điều kiện khác nhau thì bản thân việc so sánh đã không thành lập. Chỉ có điều nghiên cứu định lượng việc chuẩn hóa ánh sáng ảnh hưởng tới mức chấm nhiều tới đâu thì chúng tôi không tìm thấy.
Tiêm filler thì tốt lên được bao nhiêu?
Có dữ liệu cho thấy mức chấm hạ xuống ở nhóm từ trung bình trở lên — ở 54 người, sau 1 tháng là từ 3,74 ± 0,45 xuống 1,63 ± 0,59 (p < 0,05); ở một dữ liệu riêng trên 30 người, sau 3 tháng thì chiều dài · chiều rộng · độ sâu đều giảm có ý nghĩa. Chỉ có điều cả hai dữ liệu đều không có nhóm đối chứng và thời gian theo dõi là 1 tháng · 3 tháng. Chúng tôi không dùng dữ liệu này để nói về việc duy trì 1 năm.
Thay vì filler thì làm nâng cơ cho rãnh mũi má có được không?
Dữ liệu so sánh ngẫu nhiên trong cùng một thử nghiệm xem bên nào tốt hơn thì chúng tôi không tìm thấy. Chỉ có điều có một góc nhìn giải phẫu rằng sự lỏng lẻo của dây chằng gò má góp phần làm rãnh mũi má sâu thêm, và theo góc nhìn này thì nâng đỡ phần phía trên hợp hướng hơn là lấp trực tiếp vào rãnh. Dữ liệu báo cáo kỹ thuật ấy là loạt ca 45 người và không có nhóm đối chứng.
Còn trẻ mà đã có rãnh mũi má thì vì sao?
Cái rãnh ở vùng rãnh mũi má tồn tại về mặt giải phẫu, không liên quan tới tuổi. Ở vùng này có một ranh giới cấu trúc phân chia giữa má với môi trên, nên việc nhìn thấy đường ấy ngay cả khi còn trẻ không phải chuyện lạ. Thứ đổi đi theo tuổi thường không phải là có hay không có cái đường đó, mà là bậc chênh của mô phía trên. Vì vậy mục tiêu “làm giảm bậc chênh” thực tế hơn mục tiêu “xóa đi”.
Cơ sở y tế biên soạn
Bài viết này do Bác sĩ Lee Chi-Hak, giám đốc y khoa Phòng khám Miso tại Daegu, Hàn Quốc biên soạn và rà soát. Các nghiên cứu được trích dẫn trong bài đều được ghi kèm cả thiết kế, quy mô lẫn giới hạn mà chính tác giả đã nêu, và những mục chúng tôi không tìm được tài liệu thì được ghi là không tìm được.
| Giám đốc y khoa | Bác sĩ Lee Chi-Hak |
|---|---|
| Địa chỉ | Tầng 4, tòa nhà Bombom, 125 Dongdeok-ro, Jung-gu, Daegu, Hàn Quốc (lối ra số 1 ga Kyungpook National University Hospital) |
| Điện thoại | +82-53-428-2700 |
| Giờ khám | Ngày thường 11:00~19:00 (nghỉ trưa 13:00~14:00) / Thứ Bảy 10:00~16:00 (khám liên tục, không nghỉ trưa) / Chủ Nhật · ngày lễ nghỉ |
| Chuyên mục lâm sàng | Xem toàn bộ bài viết |
| Thư viện tài liệu lâm sàng | Xem toàn bộ tài liệu về chất kích thích tạo collagen · thiết bị nâng cơ |
Tài liệu tham khảo
- Lần kiểm định gốc của thang mức độ nặng của nếp nhăn — Day DJ, Littler CM, Swift RW, Gottlieb S, American Journal of Clinical Dermatology 2004;5(1):49–52, PMID 14979743, DOI 10.2165/00128071-200405010-00007. 5 người đánh giá chấm riêng bên trái và bên phải của 30 tấm ảnh tầng dưới khuôn mặt theo 5 bậc, rồi chấm lại sau ít nhất 2 tuần. Tỷ lệ đồng thuận trong cùng người đánh giá 68,7% · 72,7%, giữa những người đánh giá 67,7% · 72,3% (κ có trọng số 0,75 · 0,78).
- Thang số hóa quang học cho rãnh mũi má — Lorenc ZP, Smith S, Bass LS, Bank D, Weiss R, Canfield D, D’Alessandro BM, Cramer LM, Journal of Drugs in Dermatology 2024;23(1):1319–1324, PMID 38206141, DOI 10.36849/JDD.7316. Đối tượng 73 người · 3 bác sĩ có chứng chỉ · 2 lần cách nhau 2 tuần. Bài báo ghi rõ đối tượng mà thang đo là “sự hiện diện của chỗ lõm và bóng đổ (depression and shadowing)”.
- Tương quan giữa mức chấm và giá trị xám — Long X, Huang C, Zhao Q, Wang X, Ping W, Journal of Craniofacial Surgery 2025;36(3):966–969, PMID 39730116, DOI 10.1097/SCS.0000000000010778. 100 người khỏe mạnh (86 nữ · 14 nam, trung bình 41,85 ± 11,53 tuổi). Tương quan giữa mức chấm và giá trị xám r = 0,985 (p < 0,05). Tiếp đó tiêm acid hyaluronic cho 54 người từ mức trung bình trở lên (trung bình 42,9 ± 8,9 tuổi), sau 1 tháng mức chấm 3,74 ± 0,45 → 1,63 ± 0,59 (p < 0,05). Không có nhóm đối chứng.
- Đo hình thái ba chiều — Wang D, Zeng N, Zhang Q, Wu Y, Aesthetic Plastic Surgery 2022;46(5):2189–2193, PMID 35034152, DOI 10.1007/s00266-021-02682-w. 75 phụ nữ châu Á tình nguyện. Mức chấm có tương quan dương có ý nghĩa lần lượt với chiều dài · chiều rộng · độ sâu của rãnh mũi má. Sau khi tiêm acid hyaluronic cho 30 người từ mức trung bình trở lên, tới thời điểm 3 tháng cả bốn giá trị đều giảm có ý nghĩa. Không có nhóm đối chứng.
- Chấm mức tự động bằng học sâu — Cui H, Zhang Z, Zhang W, Zhang J, Cui H, Aesthetic Surgery Journal 2026;46(2):130–136, PMID 40798848, DOI 10.1093/asj/sjaf161. 6.718 ảnh khuôn mặt (1.718 ảnh ngoại trú lâm sàng + 5.000 ảnh từ bộ dữ liệu người nổi tiếng công khai), 3 bác sĩ phẫu thuật tạo hình chấm mức độc lập theo từng nửa trái phải. Độ chính xác kiểm định · F1 của mô hình tổ hợp là 0,917. Các tác giả viết rằng cách chấm mức hiện có “về bản chất là chủ quan và dễ bị biến động giữa những người đánh giá”. Phần lớn dữ liệu huấn luyện có phân bố khác với đối tượng thăm khám.
- Kỹ thuật tiêm theo góc nhìn dây chằng giữ — Cohen S, Artzi O, Mehrabi JN, Heller L, Journal of Cosmetic Dermatology 2020;19(8):1948–1954, PMID 32543088, DOI 10.1111/jocd.13546. Loạt ca 45 người · không có nhóm đối chứng · đánh giá tổng thể ở 3 tháng. Đây là báo cáo kỹ thuật định hướng vector rồi tiêm xuống dưới lớp mạc, trên tiền đề rằng sự lỏng lẻo của dây chằng gò má góp phần làm rãnh mũi má sâu thêm. Đây là thiết kế có cấp độ bằng chứng thấp.
- Pháp lệnh liên quan tới quảng cáo y tế — Điều 56 khoản 2 “Luật Y tế” Hàn Quốc. Cấm quảng cáo thông qua lời kể về trải nghiệm điều trị, so sánh với cơ sở y tế khác, dùng cách nói ở cấp độ tối cao v.v. Đó là lý do trong chuyên mục này không có những cách nói như “giỏi” · “số một”, không so sánh với cơ sở y tế khác, và không ghi giá cả · khuyến mại.
Mọi bài viết trong chuyên mục này nhằm cung cấp thông tin chung và không thay thế cho chẩn đoán hay điều trị y khoa. Hiệu quả và tác dụng không mong muốn của thủ thuật có thể biểu hiện khác nhau tùy theo tình trạng da, độ tuổi và bệnh nền của từng người, và không bảo đảm kết quả giống nhau cho mọi người. Việc có thực hiện thủ thuật hay không nhất định phải được quyết định thông qua buổi khám trực tiếp với nhân viên y tế.
← Chuyên mục lâm sàng · Thư viện tài liệu lâm sàng · Trang chủ Phòng khám Miso
한국어 · English · 日本語 · 简体中文 · Español · Tiếng Việt · ภาษาไทย · Bahasa Indonesia