Phòng khám Miso · Chuyên mục lâm sàng

Vì sao vùng dưới mắt trông hõm và cách xử lý rãnh lệ (indian jureum)

Có những người đến với chúng tôi sau khi bị nghe câu “ngủ rồi mà trông vẫn mệt”. Vùng dưới mắt là nơi da mỏng nhất trên khuôn mặt, và vì vậy một thay đổi cấu trúc rất nhỏ cũng hiện ra thành bóng đổ rất lớn. Chúng tôi ghi lại kèm con số và nguồn: cái gì khiến vùng đó trông hõm, mỗi phương pháp đã được xác minh những gì, và ở riêng vùng này phải đặc biệt dè chừng điều gì.

Chuyên mục lâm sàng Đọc khoảng 15 phút Tháng 9 năm 2026 Phòng khám Miso, Daegu · Bác sĩ Lee Chi-Hak

Kết luận trước

Filler axit hyaluronic là thứ có khối tài liệu dày nhất ở vùng này. Trong bài tổng quan y văn tập hợp 23 nghiên cứu · 2,048 người, mức hài lòng là 85~90%, và khi đo bằng hình ảnh 3D thì ở thời điểm 15 tháng vẫn còn 85% thể tích đã đưa vào. Trong nghiên cứu theo dõi 155 người trung bình 26 tháng, cải thiện 1 bậc 68% · cải thiện 2 bậc 14% được duy trì, và hiệu quả ở thời điểm 18 tháng không khác biệt về mặt thống kê so với thời điểm 6 tháng (p=0.57). Quầng thâm không sinh ra từ một nguyên nhân duy nhất. Trong nghiên cứu phân loại 65 người có dùng cả siêu âm, kết quả là loại sắc tố 5% · loại mạch máu 14% · loại cấu trúc (bóng đổ) 3% · loại hỗn hợp 78%loại thuần chỉ chiếm 22%. Và tài liệu về người Hàn Quốc khác với tài liệu phương Tây. Trên CT của 60 người da trắng thì hốc mắt rộng ra theo tuổi, nhưng trên CT của 107 người Hàn Quốc thì chiều cao và diện tích của lỗ hốc mắt không thay đổi có ý nghĩa (P>0.05, thay đổi trung bình từ 0.1 mm trở xuống). Khó mà đem nguyên câu “có tuổi thì xương tiêu đi” áp cho người Hàn Quốc. Nguyên tắc thực hành quan trọng nhất ở vùng này là độ sâu — trong bài tổng quan y văn tập hợp 830 người, khi đặt trên màng xương thì hiện tượng ánh xanh (Tyndall) gần như bằng 0, còn ở lớp nông hơn thì vượt quá 30%.

Cái gì khiến vùng đó trông hõm

Rãnh dưới mắt không phải là “nếp nhăn”. Đó là đường ranh giới nơi các mô khác nhau gặp nhau, và có một cấu trúc giữ chặt ranh giới đó.

Wong CH, Hsieh MKH, Mendelson B, Plastic and Reconstructive Surgery 2012;129(6):1392 — giải phẫu 48 nửa mặt tử thi, họ nhất quán xác nhận có một dây chằng xương–da đích thực đi thẳng từ xương hàm trên tới da. Nó đi giữa hai phần của cơ vòng mắt, bắt đầu ngay dưới mào lệ trước và chạy đại khái tới đường giữa đồng tử.

Vì dây chằng này giữ da về phía xương, nên khi mỡ hốc mắt phía trên bị đẩy ra trước và má phía dưới đi xuống thì một rãnh bị khoét ra ở giữa. Một bậc thang lồi–lõm–lồi hình thành, và khi ánh sáng chiếu chếch vào thì chỗ lõm trở thành bóng đổ.

Yếu tố góp phầnBằng chứng đã xác minh
Sự cố định do dây chằngXác nhận khi giải phẫu 48 nửa mặt tử thi
Mỡ hốc mắt lồi raXác nhận mỡ lồi ra bằng siêu âm ở 14 người trong số 65 người
Phù trước váchDày hơn nhóm chứng ở 33 người có bọng mắt dưới
Mỡ má đi xuốngỞ mức mô tả. Chưa xác minh được con số định lượng
Tiêu xương hốc mắtỞ người Hàn Quốc không có thay đổi có ý nghĩa(xem mục dưới)

Gần đây đã có một nghiên cứu micro-CT (11 tử thi · 22 mẫu) cho rằng dây chằng này “không phải một dây chằng riêng biệt mà là một phức hợp liền một khối với dây chằng giữ cơ vòng mắt (ORL)”, và một nghiên cứu mô học bác bỏ chính sự tồn tại của dây chằng đích thực cũng đang được trích dẫn. Tranh luận giải phẫu vẫn chưa kết thúc. Lý do chúng tôi ghi cả điều này là vì hình vẽ thường được dùng khi giải thích vùng này không phải là sự thật đã định.

Tài liệu về người Hàn Quốc thì khác

Ta thường gặp lời giải thích “có tuổi thì xương quanh mắt tiêu đi nên hốc mắt rộng ra”. Tra lại tài liệu gốc thì kết quả chia rẽ theo chủng tộc.

Nghiên cứuĐối tượngKết quả
Kahn & Shaw, Aesthetic Surgery Journal 2008;28(3):258CT 3D của 60 người da trắng (30 nam · 30 nữ)Chiều rộng · diện tích lỗ hốc mắt tăng có ý nghĩa. Bờ trên hốc mắt lùi về phía trong, bờ dưới hốc mắt lùi ở phía ngoài với nữ · lùi toàn bộ với nam
Jeon A và cộng sự, Surgical and Radiologic Anatomy 2020;42(5):617107 người Hàn Quốc(55 nam · 52 nữ), CT 3D nhóm 20~35 tuổi so với nhóm từ 60 tuổi trở lênCả chiều cao · diện tích lỗ hốc mắt đều không thay đổi có ý nghĩa (P>0.05), thay đổi trung bình từ 0.1 mm trở xuống

Nghĩa là với người Hàn Quốc thì căn cứ cho lời giải thích “vì xương tiêu đi” là yếu. Vậy thì còn lại cái gì — sự thay đổi vị trí của các khoang mỡ và các yếu tố về phía da · cơ sẽ chiếm phần tương đối lớn hơn.

Điều này cũng tạo ra khác biệt trong thực hành. Nếu nguyên nhân là xương giảm đi thì đổ đầy vào sâu là câu trả lời, nhưng nếu nguyên nhân là các khoang đã dịch chuyển thì đổ đầy chỗ nào và để yên chỗ nào trở nên quan trọng hơn nhiều.

78% quầng thâm không đến từ một nguyên nhân duy nhất

Việc vùng dưới mắt trông tối thường được chia thành bốn loại — loại sắc tố · loại mạch máu · loại cấu trúc (bóng đổ) · loại hỗn hợp. Có một nghiên cứu đã áp phân loại này vào bệnh nhân thực tế và tính ra tỷ lệ.

Huang YL, Chang SL, Ma L, Lee MC, Hu S, International Journal of Dermatology 2014;53(2):16465 người(tuổi trung bình 38.9) được phân loại bằng hình ảnh chẩn đoán, siêu âm và thang đánh giá 9 mục.

LoạiTỷ lệCái nhìn thấy
Loại sắc tố5%Sắc nâu
Loại mạch máu14%Sắc xanh · hồng · tím, có thể kèm bọng
Loại cấu trúc3%Bóng đổ do đường viền tạo ra
Loại hỗn hợp78%Hai hoặc ba loại chồng lên nhau

Loại thuần chỉ một kiểu chỉ chiếm 22%. Vì vậy một khẳng định chắc nịch kiểu “bạn thuộc loại sắc tố nên cứ làm trắng là được” có xác suất đúng thấp về mặt thống kê. Đó là lý do trong phòng khám chúng tôi chiếu đèn từ nhiều hướng và xem riêng lúc nằm với lúc ngồi — thành phần bóng đổ thay đổi theo tư thế và ánh sáng, còn thành phần sắc tố thì không.

Chuyện độ dày của da chúng tôi cũng xin nói cho chính xác. Trong nghiên cứu sinh thiết toàn lớp 39 vị trí trên khuôn mặt của 10 đầu tử thi, nơi trung bì mỏng nhất là mi trên phía trong 0.759 mm(nơi dày nhất là phần dưới thành ngoài mũi với 1.97 mm). Với tài liệu này thì nói được đến mức “mỏng nhất trên khuôn mặt”, còn nguồn sơ cấp cho câu thường được trích dẫn “mỏng nhất trên cơ thể, 0.5 mm” thì chúng tôi không tìm thấy.

Filler axit hyaluronic — cái gì đã được xác minh

Trong các thủ thuật cho vùng này thì thứ có khối tài liệu dày nhất là axit hyaluronic. Ta hãy xem hai bản tổng hợp lớn.

Trinh LN, Grond SE, Gupta A, Facial Plastic Surgery 2022;38:22823 nghiên cứu · 2,048 người(13 tiến cứu · 9 hồi cứu), theo dõi trung bình 13.7 tháng.

Hạng mụcKết quả
Mức hài lòng85~90% đánh giá “rất tốt”
Lượng tiêm trung bình0.47 mL / một bên(khoảng 0.21~1.0)
Thời gian duy trìAxit hyaluronic trung bình 10.8 tháng, CaHA 15.4 tháng
Theo hình ảnh 3DCòn 85% thể tích ở thời điểm 15 tháng
Lớp tiêmTrên màng xương (preperiosteal) nhiều nhất, ở 17 bài

Puyana C & Montes JR, Journal of Clinical and Aesthetic Dermatology 2025;18(11):44 — hồi cứu 155 người(tuổi trung bình 48), theo dõi trung bình 785 ngày (khoảng 26 tháng), cannula 27G 82%, trung bình 0.45 mL/một bên.

Cải thiện 1 bậc ở 105 người (68%), cải thiện 2 bậc ở 22 người (14%) — cộng lại thì 82% duy trì được trạng thái đã lên bậc. Và hiệu quả ở thời điểm 18 tháng không khác biệt về mặt thống kê so với thời điểm 6 tháng (p=0.57).

Người ta thường nói “filler thì 6 tháng đến 1 năm là hết”, nhưng ở vùng này nó còn lại lâu hơn thế. Chúng tôi cho rằng vì đây là chỗ ít cử động và chuyển hóa chậm.

Việc còn lại lâu không phải lúc nào cũng chỉ là tin vui. Thời điểm biểu hiện trung bình của biến chứng muộn được báo cáo là 16.8 tháng, và với đổi màu thì có cả ca ở tháng thứ 52. Nghĩa là đây là vùng không được đưa vào rộng rãi với giả định “đằng nào cũng sẽ hết”. Bạn cũng nên biết thêm rằng trong 23 bài của bài tổng quan y văn thì số thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên là 0 bài.

Nguyên tắc thực hành quan trọng nhất — độ sâu

Thứ phân định kết quả nhiều nhất ở vùng này không phải sản phẩm mà là đưa vào lớp nào. Điều đó được xác nhận bằng con số.

Stagliano S và cộng sự, Applied Sciences 2021;11(23):11489 — 9 nghiên cứu · 830 người. Trên màng xương 454 người (54.7%) so với lớp nông hơn 376 người (45.4%).

Khi đặt trên màng xương thì hiện tượng ánh xanh (Tyndall) gần như bằng 0, còn ở lớp nông hơn thì vượt quá 30%.

Vì sao lại thế — đó là hiện tượng vật lý. Khi đi qua các hạt rất nhỏ thì ánh sáng xanh tán xạ nhiều hơn ánh sáng đỏ khoảng 10 lần. Vì vậy gel nằm nông dưới lớp da mỏng sẽ ánh lên hơi xanh. Đó là lý do vùng này, nơi da mỏng nhất trên khuôn mặt, đặc biệt dễ bị.

May thay có thể đảo ngược được. Có thể làm tan trong vòng 24 giờ bằng 30~75 đơn vị hyaluronidase, và vẫn có tác dụng cả sau vài năm. Nếu vừa mới xảy ra thì chỉ xoa bóp thôi cũng giải quyết được phần lớn. Đây là lý do chúng tôi ưu tiên dùng nhóm axit hyaluronic ở vùng này — đó là nhóm duy nhất có thể đưa trở lại như cũ nếu bạn không hài lòng.

Ở một nghiên cứu, chỉ đổi phác đồ thôi đã đưa Tyndall từ 17% xuống 0%. Có điều vì không có thử nghiệm nào phân bổ ngẫu nhiên lớp tiêm để so sánh, nên nói cho chính xác thì bằng chứng chỉ đi tới mức “đưa vào sâu hơn thì có lợi về mặt an toàn”, còn “nhất định phải trên màng xương” là vượt quá mức đó. Cũng có hai nghiên cứu báo cáo cải thiện 98~100% khi tiêm vào lớp nông.

Polynucleotide (nhóm Rejuran) đã được xác minh đến đâu

Một thứ nữa hay được dùng quanh mắt là polynucleotide có nguồn gốc từ cá hồi. Chúng tôi xin ghi nguyên những gì đã xác minh.

Kim JH và cộng sự, Aesthetic Plastic Surgery 2022;46(4):190230 người đăng ký · 28 người hoàn thành, 18 tuần, đo khách quan bằng máy ảnh Antera 3D.

  • Bậc nếp nhăn đuôi mắt p<0.001
  • Nếp nhăn · kết cấu · lỗ chân lông · chỗ lõm · hemoglobin đều p<0.05
  • Melanin không thay đổi có ý nghĩa

Việc chỉ số hemoglobin tốt lên có nghĩa là về phía quầng thâm loại mạch máu thì có chỗ để kỳ vọng, còn việc melanin giữ nguyên có nghĩa là với loại sắc tố thì không có bằng chứng. Đặt chồng lên phân loại ở trên (loại hỗn hợp 78%) thì kết luận tự nhiên là một mình PN không làm mọi quầng thâm tốt lên.

Cũng có một thử nghiệm so sánh trực tiếp với axit hyaluronic không liên kết chéo — ngẫu nhiên · mù đôi · nửa mặt, 27 người, 3 lần cách nhau 2 tuần. Ở đánh giá cải thiện chủ quan thì không có khác biệt giữa hai nhóm, còn tỷ lệ cải thiện về độ đàn hồi · độ ẩm · độ thô ráp · thể tích lỗ chân lông thì phía PN cao hơn.

Có điều chúng tôi phải nói rõ cho ngay thẳng. Bài báo thử nghiệm lâm sàng độc lập lấy chính sản phẩm polynucleotide “dành riêng cho vùng dưới mắt” làm đối tượng thì chúng tôi không tìm thấy. Nghiên cứu ở trên xem đuôi mắt (vết chân chim) chứ không đo thể tích của rãnh dưới mắt. Vì vậy chúng tôi dùng nhóm này không phải để đổ đầy rãnh mà để xử lý kết cấu và sự mỏng đi của da. Nếu bản thân sự hõm là vấn đề thì một cách tiếp cận khác mới đúng.

Cái riêng vùng này phải đặc biệt dè chừng

Phù kéo dài

Rắc rối thường gặp nhất ở vùng này không phải nốt cứng mà là phù.

Griepentrog GJ và cộng sự, American Journal of Cosmetic Surgery 2011;28(4):251 — kết quả hồi cứu 51 ca từ 4 phòng khám cho thấy 12 người (24%) bị phù quanh hốc mắt kéo dài và kéo dài trung bình 5.4 tháng. 3 trong 12 người đã cải thiện nhờ hyaluronidase.

Ở bài tổng quan y văn 2,048 người nói trên thì phù cũng chiếm 35.6% toàn bộ biến cố bất lợi, và ở tài liệu theo dõi 5 năm thì malar edema là 11%. Lý do “thêm một chút” là nguy hiểm ở vùng này nằm ở đây.

Lời giải thích “vì dẫn lưu bạch huyết bị tắc” được dùng rộng rãi, nhưng căn cứ sơ cấp của lời giải thích đó thì chúng tôi chưa thể xác nhận. Gần đây đã có một loạt ca bệnh xem giả thuyết ứ trệ tĩnh mạch bằng siêu âm.

Mạch máu

Về mặt giải phẫu thì đây chắc chắn là chỗ nguy hiểm. Jitaree B và cộng sự, Plastic and Reconstructive Surgery 2018;142(5):1153 — đo đạc trên 30 nửa mặt tử thi.

  • Động mạch gần nhất với điểm ở bờ dưới rãnh lệ là nhánh mi của động mạch dưới ổ mắt, cách 2.79 ± 1.08 mm về phía ngoài · 2.88 ± 1.57 mm xuống dưới
  • Ở điểm về phía góc mắt trong thì động mạch góc nằm cách 4.00 ± 2.37 mm về phía trong, và ở các mẫu này nó được xác nhận là nhánh của động mạch mắt — đó là đường giải phẫu để một cục tắc đi ngược dòng có thể tới tận võng mạc

Có điều phân bố theo vùng của các ca mù thực tế được báo cáo thì khác. Trong 48 ca mới của Beleznay K và cộng sự, Aesthetic Surgery Journal 2019;39(6):662 vốn tập hợp y văn thế giới, các vùng là mũi 56.3% · giữa hai chân mày 27.1% · trán 18.8% · rãnh mũi má 14.6%, và rãnh lệ · vùng dưới mắt không xuất hiện thành một mục riêng(mi trên 1 ca, má 2 ca). Ở hai bài tổng quan y văn nói trên (2,048 người · 830 người) thì tắc mạch và mù cũng là 0 ca.

Không được đọc điều này thành “dưới mắt là an toàn”. Cái không được báo cáo và cái không xảy ra là khác nhau, còn đường giải phẫu thì có thật. Cách nói chính xác là “nguy cơ giải phẫu là rõ ràng, nhưng các ca mù được báo cáo đến nay tập trung ở mũi · giữa hai chân mày · trán · rãnh mũi má”.

Vón cục

Bất thường đường viền · nốt cứng ở tài liệu 2,048 người là 7.57%(117/1,545), và chênh lệch giữa các nghiên cứu là lớn (33% ở nghiên cứu dùng sản phẩm có hạt lớn). Tỷ lệ cần đến hyaluronidase là 5.18%. Lựa chọn sản phẩm và lượng dùng làm thay đổi con số này rất nhiều.

Tổng kết — và việc chúng tôi làm trong phòng khám

Cái đã xác minhCái chưa được xác minh
Mức hài lòng với axit hyaluronic 85~90%(2,048 người), 82% duy trì bậc ở lần theo dõi 26 tháng0 bài thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên ở vùng này (trong 23 bài của bài tổng quan y văn)
Còn 85% thể tích ở tháng thứ 15, hiệu quả ở 18 tháng không khác 6 thángThử nghiệm phân bổ ngẫu nhiên lớp tiêm để so sánh
Tiêm trên màng xương thì Tyndall gần như 0, lớp nông thì vượt quá 30%Việc kiểm chứng một chuẩn liều kiểu “trần 0.5 cc”
Quầng thâm loại hỗn hợp 78%, loại thuần 22%Thử nghiệm lâm sàng độc lập cho sản phẩm polynucleotide “dành riêng cho vùng dưới mắt”
Xương hốc mắt người Hàn Quốc không thay đổi có ý nghĩa theo tuổi (107 người)Tài liệu so sánh chống đỡ cho “dưới mắt thì nhất định phải dùng cannula”
Phù kéo dài 24%, trung bình 5.4 tháng (51 ca)Cơ chế của phù (bạch huyết hay ứ trệ tĩnh mạch)

Trình tự chúng tôi làm trong phòng khám thì đơn giản.

  1. Chúng tôi xem trong khi đổi ánh sáng. Cái thay đổi theo tư thế và ánh sáng là thành phần bóng đổ, cái không thay đổi là thành phần sắc tố
  2. Chúng tôi phân biệt là mỡ bị đẩy ra hay là vùng đó bị hõm. Nếu phần bị đẩy ra mới là vấn đề chính thì đổ đầy không giải quyết được, mà ngược lại có thể trông sưng hơn
  3. Chúng tôi bắt đầu với lượng ít. Lượng dùng trung bình là 0.45~0.47 mL một bên, và ở vùng này nó còn lại lâu
  4. Chúng tôi dùng vật liệu đảo ngược được trước

Rãnh mũi má thì chúng tôi đã ghi ở Lý do thật sự khiến rãnh mũi má sâu đi và cách cải thiện, còn khác biệt giữa filler và booster thì ở Filler và booster khác nhau ở chỗ nào.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao rãnh lệ hình thành?

Đó không phải nếp nhăn mà là đường ranh giới nơi các mô khác nhau gặp nhau. Trong nghiên cứu giải phẫu 48 nửa mặt tử thi, người ta đã xác nhận một dây chằng đi thẳng từ xương hàm trên tới da. Khi dây chằng này giữ da về phía xương mà mỡ hốc mắt phía trên bị đẩy ra trước và má phía dưới đi xuống thì một rãnh bị khoét ra ở giữa. Một bậc thang lồi–lõm–lồi được tạo ra, và khi ánh sáng chiếu chếch vào thì chỗ lõm trở thành bóng đổ.

Có phải là do có tuổi thì xương quanh mắt tiêu đi không?

Trong tài liệu về người Hàn Quốc thì không phải vậy. Ở nghiên cứu CT của 60 người da trắng thì hốc mắt rộng ra theo tuổi, nhưng ở nghiên cứu so sánh 107 người Hàn Quốc (20~35 tuổi so với từ 60 tuổi trở lên) bằng CT 3D thì cả chiều cao lẫn diện tích của lỗ hốc mắt đều không thay đổi có ý nghĩa (P>0.05, thay đổi trung bình từ 0.1 mm trở xuống). Vì vậy với người Hàn Quốc thì sự thay đổi vị trí của các khoang mỡ và các yếu tố về phía da, cơ chiếm phần tương đối lớn hơn.

Quầng thâm có hết bằng filler không?

Tùy loại. Trong nghiên cứu phân loại 65 người có dùng cả siêu âm thì loại sắc tố 5%, loại mạch máu 14%, loại cấu trúc (bóng đổ) 3%, loại hỗn hợp 78%. Loại thuần chỉ một kiểu chỉ chiếm 22%. Cái mà filler xử lý là thành phần cấu trúc, bóng đổ, còn thành phần sắc tố thì vẫn còn nguyên. Vì vậy trong phòng khám việc xem trong khi đổi ánh sáng và tư thế là việc làm trước tiên — thành phần bóng đổ thay đổi theo tư thế và ánh sáng, còn thành phần sắc tố thì không.

Filler dưới mắt được bao lâu?

Ở vùng này thì lâu hơn ta tưởng. Trong bài tổng quan y văn tập hợp 23 bài và 2,048 người, thời gian duy trì trung bình của axit hyaluronic là 10.8 tháng, nhưng khi đo bằng hình ảnh 3D thì ở thời điểm 15 tháng vẫn còn 85% thể tích đã đưa vào. Trong nghiên cứu theo dõi 155 người trung bình 26 tháng thì hiệu quả ở thời điểm 18 tháng không khác biệt về mặt thống kê so với thời điểm 6 tháng (p=0.57). Có điều còn lại lâu cũng có nghĩa là biến chứng muộn có thể xuất hiện muộn (trung bình 16.8 tháng), nên đây cũng là vùng không được đưa vào rộng rãi.

Nghe nói tiêm filler dưới mắt thì bị ánh xanh?

Người ta gọi đó là hiện tượng Tyndall, và nó xảy ra khi đưa vào nông. Đó là vì khi đi qua các hạt rất nhỏ thì ánh sáng xanh tán xạ nhiều hơn ánh sáng đỏ khoảng 10 lần. Trong bài tổng quan y văn tập hợp 830 người, khi đặt trên màng xương thì gần như bằng 0, còn ở lớp nông hơn thì vượt quá 30%. May thay có thể làm tan trong vòng 24 giờ bằng 30~75 đơn vị hyaluronidase, và vẫn có tác dụng cả sau vài năm. Việc đảo ngược được chính là lý do chúng tôi dùng nhóm axit hyaluronic trước ở vùng này.

Nghe nói filler dưới mắt có nguy cơ mù cao, có đúng không?

Nguy cơ giải phẫu thì rõ ràng. Trong đo đạc trên 30 nửa mặt tử thi, động mạch góc ở điểm về phía góc mắt trong được xác nhận là nhánh của động mạch mắt, và đó là đường để một cục tắc đi ngược dòng có thể tới tận võng mạc. Có điều phân bố của các ca mù thực tế được báo cáo thì khác — trong 48 ca mới của một bài tổng quan tập hợp y văn thế giới thì mũi 56.3%, giữa hai chân mày 27.1%, trán 18.8%, rãnh mũi má 14.6%, còn vùng dưới mắt không xuất hiện thành một mục riêng. Ở các bài tổng quan y văn 2,048 người và 830 người thì tắc mạch và mù cũng là 0 ca. Nói chính xác không phải là "an toàn" mà là "các ca được báo cáo tập trung ở những vùng khác".

Nghe nói có trường hợp sưng lâu sau khi làm thủ thuật?

Vấn đề thường gặp nhất ở vùng này không phải nốt cứng mà là phù. Trong nghiên cứu hồi cứu 51 ca từ 4 phòng khám, 12 người (24%) bị phù quanh hốc mắt kéo dài và kéo dài trung bình 5.4 tháng. Ở bài tổng quan y văn 2,048 người thì phù cũng chiếm 35.6% toàn bộ biến cố bất lợi. Vì vậy ở vùng này việc đưa vào "thêm một chút" là nguy hiểm, và lượng dùng trung bình ở mức 0.45~0.47 mL một bên.

Polynucleotide như Rejuran Eye có hiệu quả ở vùng dưới mắt không?

Ở đuôi mắt thì có tài liệu đo khách quan. Trong nghiên cứu theo dõi 28 người suốt 18 tuần và đo bằng máy ảnh Antera 3D, bậc nếp nhăn tốt lên với p<0.001, còn nếp nhăn, kết cấu, lỗ chân lông, chỗ lõm và hemoglobin đều tốt lên với p<0.05, trong khi melanin không thay đổi có ý nghĩa. Có điều bài báo thử nghiệm lâm sàng độc lập lấy chính sản phẩm "dành riêng cho vùng dưới mắt" làm đối tượng thì chúng tôi không tìm thấy, và nghiên cứu ở trên xem đuôi mắt chứ không đo thể tích của rãnh dưới mắt. Vì vậy chúng tôi dùng nhóm này không phải để đổ đầy rãnh mà để xử lý kết cấu và sự mỏng đi của da.

Ở vùng dưới mắt thì cannula có an toàn hơn kim không?

Tài liệu so sánh trực tiếp dành riêng cho vùng này thì gần như không có. Trong bài tổng quan y văn 830 người, có nghiên cứu cho ra tỷ lệ bầm tím thấp hơn ở phía cannula, nhưng cũng có nghiên cứu báo cáo 2% với kim, nên khác biệt về kỹ thuật và cách báo cáo là yếu tố chi phối. Dữ liệu cho thấy cannula giảm được tắc mạch hay mù ở vùng này thì chưa được xác minh. Chúng tôi dùng phân theo vùng và lớp, và nói trước với bạn là dùng bên nào trước khi làm thủ thuật.

Trường hợp mỡ lồi ra thì có làm filler được không?

Nếu vấn đề chính là mỡ lồi ra thì đổ đầy không giải quyết được, mà ngược lại có thể trông sưng hơn. Trong nghiên cứu 65 người, 14 người được xác nhận có mỡ hốc mắt lồi ra bằng siêu âm, và 33 người có bọng mắt dưới thì độ dày trước vách dày hơn nhóm chứng — nghĩa là "cái lồi ra" cũng có hai cơ chế là mỡ và phù. Vì vậy việc phân biệt trước xem đó có phải chỗ để đổ đầy hay không đi trước cả việc chọn thủ thuật.

Cơ sở y tế biên soạn

Bài viết này do Bác sĩ Lee Chi-Hak, giám đốc y khoa Phòng khám Miso tại Daegu, Hàn Quốc biên soạn và rà soát. Các nghiên cứu được trích dẫn trong bài đều được ghi kèm cả thiết kế, quy mô lẫn giới hạn mà chính tác giả đã nêu, và những mục chúng tôi không tìm được tài liệu thì được ghi là không tìm được.

Phòng khám Miso
Giám đốc y khoaBác sĩ Lee Chi-Hak
Địa chỉTầng 4, tòa nhà Bombom, 125 Dongdeok-ro, Jung-gu, Daegu, Hàn Quốc (lối ra số 1 ga Kyungpook National University Hospital)
Điện thoại+82-53-428-2700
Giờ khámNgày thường 11:00~19:00 (nghỉ trưa 13:00~14:00) / Thứ Bảy 10:00~16:00 (khám liên tục, không nghỉ trưa) / Chủ Nhật · ngày lễ nghỉ
Chuyên mục lâm sàngXem toàn bộ bài viết
Thư viện tài liệu lâm sàngXem toàn bộ tài liệu về chất kích thích tạo collagen · thiết bị nâng cơ

Tài liệu tham khảo

  1. Giải phẫu dây chằng là Wong CH, Hsieh MKH, Mendelson B, “The Tear Trough Ligament: Anatomical Basis for the Tear Trough Deformity”, Plastic and Reconstructive Surgery 2012;129(6):1392 — 48 nửa mặt tử thi. Chúng tôi đã xác minh tới phần tóm tắt và các con số cốt lõi nhưng chưa tiếp cận được toàn văn.
  2. Tranh luận về dây chằng là O J, Kwon HJ, Choi YJ, Cho TH, Yang HM, Scientific Reports 2018;8 — micro-CT 11 tử thi · 22 mẫu, “có thể là một phức hợp dây chằng duy nhất chứ không phải hai dây chằng riêng biệt”. Nghiên cứu mô học bác bỏ sự tồn tại của dây chằng đích thực (Lee và cộng sự 2024) chúng tôi chỉ xác minh được qua trích dẫn thứ cấp.
  3. Khác biệt chủng tộc về xương hốc mắt là Kahn DM & Shaw RB Jr, Aesthetic Surgery Journal 2008;28(3):258(60 người da trắng) và Jeon A, Lee UY, Kwak DS, Lee JH, Ra H, Han SH, “Aging of the bony orbit in East Asians”, Surgical and Radiologic Anatomy 2020;42(5):617(107 người Hàn Quốc, P>0.05).
  4. Phân loại quầng thâm và các tỷ lệ là Huang YL, Chang SL, Ma L, Lee MC, Hu S, “Clinical analysis and classification of dark eye circle”, International Journal of Dermatology 2014;53(2):164 — 65 người, sắc tố 5% · mạch máu 14% · cấu trúc 3% · hỗn hợp 78%, xác nhận mỡ hốc mắt lồi ra bằng siêu âm ở 14 người.
  5. Độ dày da là Chopra K và cộng sự, “A Comprehensive Examination of Topographic Thickness of Skin in the Human Face”, Aesthetic Surgery Journal 2015;35(8):1007 — 10 đầu tử thi · 39 vị trí trên mặt, trung bì mỏng nhất là mi trên phía trong 0.759 mm. Con số riêng cho mi dưới và câu “mỏng nhất trên cơ thể” không được bài báo này chống đỡ.
  6. Bài tổng quan y văn về filler là Trinh LN, Grond SE, Gupta A, “Dermal Fillers for Tear Trough Rejuvenation: A Systematic Review”, Facial Plastic Surgery 2022;38:228 — 23 bài · 2,048 người, 0 bài thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, theo dõi trung bình 13.7 tháng, trung bình 0.47 mL/một bên, còn 85% thể tích ở tháng thứ 15, biến cố bất lợi 30.2%(466/1,545), bất thường đường viền 7.57%, cần hyaluronidase 5.18%.
  7. Theo dõi dài hạn là Puyana C & Montes JR, “Long-term effects of tear trough hyaluronic acid filler”, Journal of Clinical and Aesthetic Dermatology 2025;18(11):44 — 155 người, trung bình 785 ± 536 ngày, cải thiện 1 bậc 68% · 2 bậc 14%, 18 tháng so với 6 tháng p=0.57.
  8. Lớp tiêm và hiện tượng Tyndall là Stagliano S và cộng sự, “Is the Treatment of the Tear Trough Deformity with Hyaluronic Acid Injections a Safe Procedure?”, Applied Sciences 2021;11(23):11489 — 9 bài · 830 người, trên màng xương 454 người so với lớp nông 376 người, trên màng xương Tyndall gần như 0 · lớp nông vượt quá 30%.
  9. Vật lý của hiện tượng Tyndall và cách xử trí là King M, “Management of Tyndall Effect”, Journal of Clinical and Aesthetic Dermatology 2016 — ánh sáng xanh tán xạ nhiều hơn khoảng 10 lần, hyaluronidase 30~75 đơn vị. Bài báo này nêu rõ rằng “không có nghiên cứu quy mô lớn nào báo cáo tỷ lệ mắc của hiện tượng Tyndall”.
  10. Polynucleotide là Kim JH, Kim ES, Kim SW, Hong SP, Kim J, Aesthetic Plastic Surgery 2022;46(4):1902 — 30 người đăng ký · 28 người hoàn thành, 18 tuần, vùng đuôi mắt, melanin không khác biệt có ý nghĩa. So sánh nửa mặt với axit hyaluronic không liên kết chéo (27 người, 3 lần cách nhau 2 tuần) là Journal of Dermatological Treatment 2022;33(1), và chúng tôi chưa thể xác nhận tác giả thứ nhất cùng các con số chi tiết.
  11. Phù là Griepentrog GJ, Lucarelli MJ, Burkat CN, Lemke BN, Rose JG Jr, American Journal of Cosmetic Surgery 2011;28(4):251 — hồi cứu 51 ca, 12 người (24%), trung bình 5.4 tháng.
  12. Đo đạc mạch máu là Jitaree B, Phumyoo T, Uruwan S, Sawatwong W, McCormick L, Tansatit T, Plastic and Reconstructive Surgery 2018;142(5):1153 — 30 nửa mặt tử thi, động mạch góc được xác nhận là nhánh của động mạch mắt, các trị số đo 2.79 ± 1.08 mm · 4.00 ± 2.37 mm.
  13. Phân bố theo vùng của các ca mù là Beleznay K, Carruthers JDA, Humphrey S, Carruthers A, Jones D, Aesthetic Surgery Journal 2019;39(6):662 — trên cơ sở 48 ca mới từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 9 năm 2018 (con số tích lũy 146 là tổng cộng gộp cả 98 ca của bài tổng quan năm 2015), mũi 27 ca (56.3%) · giữa hai chân mày 13 ca · trán 9 ca · rãnh mũi má 7 ca, mi trên 1 ca · má 2 ca, mù hoàn toàn 25 ca (52%).
  14. Thang đánh giá là Donofrio L, Carruthers J, Hardas B và cộng sự, “Development and Validation of a Photonumeric Scale for Evaluation of Infraorbital Hollows”, Dermatologic Surgery 2016;42(Suppl 10):S251 — 8 người đánh giá · 2 vòng đánh giá trực tiếp · phân tích 294 người, hệ số κ có trọng số trong cùng người đánh giá 0.79, tương quan nội cụm giữa những người đánh giá 0.70.
  15. So sánh với ghép mỡ là Yang F, Ji Z, Peng L và cộng sự, PLOS ONE 2021;16(4):e0248505 — 39 bài · 4,046 người, 0 bài thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, biến chứng gộp 7.9%(95% CI 4.8~12.8), mức hài lòng gộp 90.9%.
  16. Cái chúng tôi chưa thể xác nhận — ① tài liệu so sánh dành riêng cho vùng này để chống đỡ cho “dưới mắt thì nhất định phải dùng cannula” (chúng tôi không tiếp cận được toàn văn của nghiên cứu so sánh tiến cứu duy nhất) ② nghiên cứu liều–đáp ứng kiểm chứng một chuẩn liều kiểu “trần 0.5 cc” ③ căn cứ sơ cấp của giả thuyết dẫn lưu bạch huyết như một cơ chế của phù ④ thử nghiệm lâm sàng độc lập cho sản phẩm polynucleotide “dành riêng cho vùng dưới mắt” ⑤ thử nghiệm phân bổ ngẫu nhiên lớp tiêm để so sánh ⑥ con số định lượng cho sự đi xuống của các khoang mỡ má.

Mọi bài viết trong chuyên mục này nhằm cung cấp thông tin chung và không thay thế cho chẩn đoán hay điều trị y khoa. Hiệu quả và tác dụng không mong muốn của thủ thuật có thể biểu hiện khác nhau tùy theo tình trạng da, độ tuổi và bệnh nền của từng người, và không bảo đảm kết quả giống nhau cho mọi người. Việc có thực hiện thủ thuật hay không nhất định phải được quyết định thông qua buổi khám trực tiếp với nhân viên y tế.

← Chuyên mục lâm sàng · Thư viện tài liệu lâm sàng · Trang chủ Phòng khám Miso

한국어 · English · 日本語 · 简体中文 · Español · Tiếng Việt · ภาษาไทย · Bahasa Indonesia