Phòng khám Miso · Chuyên mục lâm sàng

Lý do thật sự khiến rãnh mũi má sâu đi và cách cải thiện

Ngay việc gọi rãnh mũi má là ‘nếp nhăn’ đã không chính xác. Về mặt giải phẫu, đây là đường ranh giới cố định do cơ bám trực tiếp vào lớp bì tạo ra, và vì vậy khuôn mặt trẻ đang cười cũng có nó. Cái thay đổi khi có tuổi không phải bản thân đường này mà là mô nằm vắt trên nó. Hiểu được khác biệt đó thì sẽ rõ cái gì hiệu quả vì sao và cái gì không hiệu quả vì sao.

Chuyên mục lâm sàng Đọc khoảng 14 phút Tháng 9 năm 2026 Phòng khám Miso, Daegu · Bác sĩ Lee Chi-Hak

Kết luận trước

Rãnh mũi má không phải là da bị gấp nếp mà là một cấu trúc. Trong mô học tử thi, người ta đã xác nhận các sợi cơ của nhóm cơ nâng môi trên xuyên qua cơ vòng miệng và bám trực tiếp vào lớp bì, và đường này biến mất ở khuôn mặt bị liệt và vẫn còn sau khi chết. Việc nó sâu đi khi có tuổi không phải vì đường này mới bị khoét ra, mà vì vị trí của đường này vẫn cố định do cơ bám vào, trong khi lớp mỡ phía trên bị teo · hạ xuống và các sợi nối da với lớp sâu bị giãn ra. Trong đo lường ba chiều, thể tích rãnh mũi má tương quan với tuổi ở mức r = 0.727. Về bằng chứng điều trị, filler axit hyaluronic cao nhất (phân tích gộp mạng lưới của 13 thử nghiệm ngẫu nhiên), quan niệm phổ biến “độn má thì rãnh mũi má sẽ được nâng lên” đã bị phủ định trong theo dõi ba chiều, và căng chỉ được kết luận trong tổng quan hệ thống là gần như không có bằng chứng. Và vùng này chiếm 13~15% các báo cáo mù mắt do filler.

Trước hết — rãnh mũi má không phải là nếp nhăn

Năm 1989, có một nghiên cứu cắt dọc rãnh mũi má của 4 tử thi tươi để quan sát mô học. Những gì được xác nhận ở đó là như sau.

  • Dưới rãnh mũi má có mô sợi dày đặc
  • Các sợi cơ của nhóm cơ nâng môi trên xuyên qua cơ vòng miệng và bám trực tiếp vào lớp bì
  • Rãnh mũi má không có trên khuôn mặt trẻ sơ sinh, biến mất ở khuôn mặt bị liệt, và vẫn còn sau khi chết

Gộp ba điều này lại thì ra kết luận. Rãnh mũi má không phải là vết hằn do da gấp nếp, mà là đường ranh giới cấu trúc hình thành dọc theo điểm mà cơ kéo lớp bì. Cơ phải cử động thì nó mới có, cơ ngừng lại thì nó biến mất.

Cơ nào phụ trách phần nào cũng đã được làm rõ. Cơ nâng môi trên cánh mũi (LLSAN) quy định phần trong của rãnh mũi má, còn cơ nâng môi trên (LLS) quy định một phần ba giữa. Nghiên cứu giải phẫu 12 nửa mặt năm 2017 còn báo cáo thêm rằng giữa cơ vòng mắt và cơ nâng môi trên cánh mũi có một cơ riêng biệt tồn tại ở toàn bộ mẫu và bám vào mỡ má.

Vì vậy cách diễn đạt chính xác không phải là “rãnh mũi má đã xuất hiện” mà là “đường ranh giới vốn đã có nay trông sâu hơn”. Khác biệt này quyết định toàn bộ phần nói về điều trị ở phía sau.

Vậy cái gì thay đổi — không phải đường, mà là mô phía trên nó

Nghiên cứu thực hiện năm 2023 trên 50 đầu tử thi giải thích phần này chi tiết nhất. Ngoài mẫu cắt lát · mô học · micro-CT, họ còn làm cả thử nghiệm kéo cơ học.

Những gì được xác nhận là như sau.

  • Khối mỡ má lấy rãnh mũi má làm ranh giới phía trong. Tức là mỡ dừng lại ở đường đó
  • Các sợi nối da với lớp sâu (retinacula cutis) được sắp xếp theo hình tổ ong
  • Khi có tuổi, vị trí của bản thân rãnh mũi má vẫn cố định do cơ bám vào, còn lớp mỡ phía trên bị teo · hạ xuống và các sợi giãn ra, khiến nó vắt lên trên đường ranh giới cố định theo hình giọt nước

Thể tích của rãnh mũi má thực sự đã từng được đo. Trong nghiên cứu đo 87 người tình nguyện bình thường (13~84 tuổi) bằng phép đo ảnh lập thể ba chiều, thể tích rãnh mũi má phân bố từ 0.0026 mL đến 0.2306 mL, và tương quan với tuổi là r = 0.727 (p < 0.0001). Nam giới lớn hơn nữ giới ở mọi lứa tuổi và không có bất đối xứng trái phải.

Cũng trong nghiên cứu đó, chỉ riêng việc từ nằm chuyển sang đứng dậy đã làm thể tích rãnh mũi má thay đổi có ý nghĩa (p = 0.0012). Ở thế hệ các bà mẹ, khi đứng thẳng thì tăng 32%. Việc soi gương và tự chụp ảnh khi nằm trông khác nhau là có lý do như vậy.

Cơ chế làm nó sâu đi — cái đã xác nhận và cái đang tranh luận

Các cơ chế được báo cáo là tham gia vào việc rãnh mũi má sâu đi và bằng chứng của chúng
Cơ chếBằng chứngMức độ
Mỡ vùng giữa mặt hạ xuống · teo điNghiên cứu CT tử thi xác nhận các khoang mỡ dịch chuyển xuống dưới, khoảng cách với bờ dưới hốc mắt tăng lên, mất thể tích của mỡ má trong sâuĐã xác nhận
Tiêu xương hàm trênCT ba chiều 60 người da trắng — góc hàm trên giảm có ý nghĩa ở cả nam và nữ. Nghiên cứu chụp lại cùng một người sau 9 năm trên 56 người cũng xác nhận góc giảm (p < 0.0001)Đã xác nhận
Hút thuốcSo sánh 79 cặp song sinh cùng trứng — bên có hút thuốc thì rãnh mũi má sâu hơn có ý nghĩaĐã xác nhận
Tia cực tím186 cặp song sinh cùng trứng — càng phơi nắng nhiều thì trông càng già (p = 0.015)Đã xác nhận (không phải con số riêng cho rãnh mũi má)
Co cơ lặp đi lặp lạiTrong nghiên cứu song sinh tiêm botox suốt 13 năm, rãnh mũi má là nơi không được tiêm botox thì lão hóa như nhau ở cả hai bênNgược lại là đằng khác
Tỷ lệ đóng góp của từng cơ chếChúng tôi không tìm thấy nghiên cứu so sánh định lượng

Dòng cuối cùng rất quan trọng. Chúng tôi không tìm thấy nghiên cứu nào chia tỷ lệ đóng góp thành con số kiểu “teo mỡ 40%, tiêu xương 30%”. Nếu có bài viết đưa ra những con số như vậy thì bạn nên kiểm tra nguồn.

Và có một điểm tranh luận trong giới học thuật vẫn chưa ngã ngũ. Vùng giữa mặt ‘chảy xuống’ hay ‘xẹp đi’. Nghiên cứu năm 2007 chồng ảnh cũ và ảnh hiện tại của cùng một người sau khi hiệu chỉnh kích thước · căn chỉnh đã đặt nghi vấn cho thuyết hạ xuống do trọng lực, với lý do các mốc phía trên của vùng giữa mặt gần như không dịch chuyển xuống dưới. Ngược lại, CT tử thi và nghiên cứu 50 đầu ở trên thì ủng hộ sự dịch chuyển xuống dưới. Cả hai bên đều có.

Bằng chứng theo từng phương pháp điều trị — từ mạnh đến yếu

Mức bằng chứng của từng phương pháp điều trị cho rãnh mũi má
Điều trịBằng chứngĐánh giá
Tiêm trực tiếp filler axit hyaluronicPhân tích gộp mạng lưới của 13 thử nghiệm ngẫu nhiên. Thử nghiệm không thua kém, mù đôi, nửa mặt trên người Hàn Quốc (93 người, theo dõi 48 tuần)Cao nhất
Tiêm PLLA (kích thích collagen)Thử nghiệm ngẫu nhiên · mù người đánh giá trên 233 người — vượt trội so với nhóm chứng trong khoảng 3~13 tháng, hiệu quả duy trì đến 25 thángCao
Sóng cao tầnTrong đoàn hệ một nhóm 20 người, sự chùng của rãnh mũi má cải thiện có ý nghĩa ở tuần 12 và duy trì đến tuần 24 — không có nhóm chứngYếu
Siêu âm (HIFU)Tổng quan hệ thống 16 bài · khoảng 573 người — có các con số khách quan như nâng chân mày 0.47~1.7mm nhưng báo cáo về rãnh mũi má thì hạn chế. Một nghiên cứu mô tả rằng đáp ứng ở vùng chân mày cao hơn ở rãnh mũi máYếu
Cải thiện gián tiếp bằng cách bù thể tích ở má (gò má)Theo dõi ba chiều 77 người — chỉ tiêm ở gò má thì không quan sát thấy sự dịch chuyển trên mặt phẳng của mô vùng rãnh mũi máPhủ định
Căng chỉTổng quan hệ thống 12 bài — “gần như hoặc hoàn toàn không có bằng chứng thực chất nào được bổ sung để chống lưng cho tính hiệu quả · an toàn”. 2 bài cho kết quả tích cực là do nhà sản xuất tài trợRất yếu
Độc tố botulinumChúng tôi không tìm thấy thử nghiệm ngẫu nhiên nào lấy rãnh mũi má làm tiêu chí đánh giá chínhKhông xác minh được
Skin boosterBằng chứng về skin booster là về các chỉ số chất lượng da, và chúng tôi không xác minh được nghiên cứu nào lấy độ sâu rãnh mũi má làm tiêu chí đánh giáKhông xác minh được

Về câu “độn má thì rãnh mũi má sẽ được nâng lên”

Quan niệm này thực sự đã từng được kiểm chứng. Người ta tiêm 1~3cc axit hyaluronic vào phía trên gò má cho 77 bệnh nhân, rồi theo dõi sự thay đổi vị trí của lỗ chân lông để đo bằng ba chiều xem da đã di chuyển theo hướng nào và bao nhiêu. Kết quả phân tích 37 người có biểu cảm nhất quán là như sau.

Chỉ tiêm ở gò má thì không phát sinh bất kỳ sự dịch chuyển trên mặt phẳng nào, cũng không có lực kéo nào lên mô vùng rãnh mũi má. Mượn cách diễn đạt của tác giả, dù có bơm 3cc vào má thì vùng da giữa chỗ tiêm và rãnh mũi má vẫn không dịch chuyển. Cải thiện chỉ xuất hiện khi tiêm trực tiếp vào rãnh mũi lệ.

Tuy nhiên cũng tồn tại bài báo cho kết quả ngược lại. Có một báo cáo năm 2017 nói rằng khi tăng thể tích gò má bằng một loại volumizer axit hyaluronic nhất định thì có hiệu quả tích cực bổ sung lên rãnh mũi má, nhưng chúng tôi không xác minh được thiết kế và cỡ mẫu của bài báo đó. Chỉ trích dẫn một phía là không chính xác nên chúng tôi ghi cả hai.

Về căng chỉ

Kết luận của bài tổng quan hệ thống năm 2018 đáng để trích dẫn — rằng trong 10 năm gần như hoặc hoàn toàn không có bằng chứng thực chất nào được bổ sung để chống lưng cho tính hiệu quả và an toàn, và rằng trong tất cả các tài liệu trừ 2 bài, tính bền của hiệu quả nâng cơ là rất hạn chế nếu không muốn nói là hơn thế, còn 2 bài tích cực đó thì do nhà sản xuất chỉ tài trợ.

Thử nghiệm kéo trong nghiên cứu 50 đầu tử thi nói ở trên giải thích lý do đó. Dù có khâu neo vào phần sâu của mỡ má thì lực căng vẫn được truyền qua da chứ không phải qua lớp mỡ. Nghĩa là thứ cuối cùng nhận lực kéo là lớp da vốn dễ giãn.

Vấn đề mạch máu của vùng này — chúng tôi ghi ra chứ không giấu

Nói về filler rãnh mũi má mà bỏ phần này thì không được. Điều 56 khoản 2 Luật Y tế cũng cấm quảng cáo bỏ sót thông tin quan trọng như tác dụng phụ.

Trước hết là giải phẫu. Trong nghiên cứu năm 2024 tái dựng ba chiều có cản quang trên 52 tử thi người châu Á, ở 83.7% động mạch mặt chuyển tiếp thành động mạch góc. Trong nghiên cứu năm 2025 quan sát 45 bệnh nhân Hàn Quốc bằng siêu âm, 38% có khác biệt cá thể trong đường đi của động mạch mặt.

Nghĩa là cách giải thích “có tay nghề thì tránh được” là không chính xác. Cứ hơn một trong ba người thì mạch máu đi qua vị trí khác với sách giáo khoa.

Tỷ trọng của rãnh mũi má trong các báo cáo mù mắt liên quan đến filler
Tài liệuQuy môPhân bố theo vùngKhác
Tổng quan tài liệu toàn cầu (2015)98 caVùng giữa hai chân mày 38.8%, vùng mũi 25.5%, rãnh mũi má 13.3%, trán 12.2%Mỡ tự thân 47.9%, HA 23.5%
Tổng quan cập nhật (2019)48 ca mới · lũy kế 146 caVùng mũi 56.3%, vùng giữa hai chân mày 27.1%, trán 18.8%, rãnh mũi má 14.6% (7 ca)HA 81.3%. Đa số báo cáo là châu Á và Hàn Quốc nhiều nhất với 17 ca. Mù hoàn toàn 52%
Khảo sát toàn quốc của Hội Võng mạc Hàn Quốc (2014)44 bệnh nhân(phân bố theo vùng tiêm không có trong tóm tắt nên chúng tôi không xác minh được)Mỡ tự thân 22 người · HA 13 người. Nhóm mỡ tự thân có tiên lượng xấu hơn và tỷ lệ kèm nhồi máu não cao hơn

Ở dòng thứ hai, xin đừng bỏ qua con số HA chiếm 81.3%. Câu “axit hyaluronic thì tan được nên an toàn” là nói về khả năng điều trị chứ không phải về tần suất xảy ra. Cũng trong bài tổng quan đó, mù hoàn toàn là 52%.

Về phía hoại tử da cũng có báo cáo. Trong nghiên cứu năm 2025 phân tích hồi cứu 12 bệnh nhân bị thiếu máu cục bộ da sau khi tiêm filler rãnh mũi má, 75% có kiểu thiếu máu trải khắp rãnh mũi má và toàn bộ mũi.

Cũng đã có khuyến nghị về lớp tiêm. Nghiên cứu tử thi người châu Á nói trên khuyến nghị một phần ba trên của rãnh mũi má thì tiêm ở lớp trên màng xương, hai phần ba dưới thì tiêm ở lớp bì dọc theo rãnh mũi má. Trong nghiên cứu 45 người Hàn Quốc, 20 người được tiêm dưới hướng dẫn siêu âm có 0 ca biến chứng mạch máu trong 12 tuần.

Tỷ lệ phát sinh thì vẫn chưa biết. Chúng tôi không tìm thấy thống kê có mẫu số kiểu “một ca trên bao nhiêu bơm tiêm”. Toàn bộ tài liệu thu được đều dựa trên báo cáo ca bệnh và loạt ca bệnh. Không có căn cứ để nói là hiếm, cũng không có căn cứ để nói là hay gặp.

Cách làm tại nhà — cái có bằng chứng và cái không

Bằng chứng thực tế của các cách thường được khuyên
Cách làmĐiều đã xác nhận
Bỏ thuốc láCó bằng chứng. Ở 79 cặp song sinh cùng trứng, bên có hút thuốc có rãnh mũi má sâu hơn có ý nghĩa. Thay đổi tập trung chủ yếu ở vùng mặt giữa · dưới
Chống nắngCó bằng chứng, nhưng có điều kiện. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên 903 người · 4.5 năm, nhóm dùng hằng ngày có tiến triển lão hóa da ít hơn 24% (OR 0.76). Tuy nhiên vùng đo là mu bàn tay chứ không phải rãnh mũi má
Bài tập biểu cảm khuôn mặtKhông có bằng chứng cho rãnh mũi má. Trong thử nghiệm 32 bài tập biểu cảm (16 người hoàn thành), trong 20 mục thì chỉ có 2 mục là độ đầy đặn của má trên · má dưới cải thiện có ý nghĩa, và rãnh mũi má không nằm trong đó. Không có nhóm chứng
Massage · con lănGián tiếp. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên 8 tuần trên 34 phụ nữ Hàn Quốc, nhóm dùng con lăn có độ đàn hồi tổng +8.6% (p < 0.001). Rãnh mũi má không được đo trực tiếp, và chính các tác giả cũng chỉ suy luận rằng “về lâu dài sẽ tạo ra cải thiện”
Không nằm nghiêngKhông có bằng chứng. Trong nghiên cứu quan sát về tư thế ngủ và nếp nhăn (64 người), không có tương quan có ý nghĩa. Tài liệu năm 2016 hay được trích dẫn không phải nghiên cứu gốc mà là bài tổng quan, và không có dữ liệu thực nghiệm có nhóm chứng của chính nó

Xin nói thêm một điều về tư thế: việc trọng lực làm thay đổi thể tích rãnh mũi má là sự thật — trong nghiên cứu 87 người nói trên, khi nằm rồi đứng dậy thì thể tích thay đổi có ý nghĩa, và ở thế hệ các bà mẹ thì tăng 32%. Tuy nhiên đây là hiệu ứng tức thời “nằm xuống thì trông ít hơn” chứ không phải bằng chứng cho câu “nằm nghiêng thì sinh nếp nhăn”.

Trong phòng khám chúng tôi phân loại thế nào

Nghiên cứu năm 2025 quan sát 45 người Hàn Quốc bằng siêu âm đã phân rãnh mũi má thành ba loại. Nó không khác nhiều với cách chúng tôi phân loại khi tư vấn nên xin giới thiệu.

  • Kiểu thiếu thể tích — mô phía trên bị xẹp xuống khiến đường ranh giới nổi bật lên một cách tương đối
  • Kiểu chùng mô — mô phía trên vắt xuống dưới
  • Kiểu cơ kéo — yếu tố chính là cơ kéo mạnh khi biểu cảm

Tuy nhiên cách phân loại này là một đề xuất, chứ không phải nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị cho từng kiểu bằng thử nghiệm ngẫu nhiên. Đặc biệt tuy có đưa ra lựa chọn dùng độc tố cho kiểu cơ kéo, nhưng như đã ghi ở trên, chúng tôi không tìm thấy thử nghiệm độc tố nào lấy rãnh mũi má làm tiêu chí đánh giá chính.

Việc chúng tôi thực sự làm là như sau — xem nó khác nhau bao nhiêu ở tư thế ngồi và tư thế nằm, đường này di chuyển thế nào khi cười, và đường có nông đi không khi dùng tay nâng mô phía trên lên. Kiểm tra thứ ba đặc biệt quan trọng. Nếu nâng bằng tay mà đường vẫn y nguyên thì nhiều khả năng đường đó không phải do mô vắt lên tạo ra, mà là phần được cố định bởi chỗ cơ bám.

Và chúng tôi cũng thường quyết định làm ít đi. Rãnh mũi má không phải là đường có thể xóa hoàn toàn, và nếu bơm quá tay để xóa nó thì khi cười khuôn mặt sẽ lệch khỏi biểu cảm vốn có. Đặt mục tiêu là ‘làm nhạt bóng đổ’ chứ không phải ‘xóa đi’ thì kết quả tốt hơn.

Phản ứng bất lợi của filler — dữ liệu trên người Hàn Quốc

Tách khỏi chuyện mù mắt, tần suất của các phản ứng xuất hiện thường ngày cũng đã được đo. Đây là các con số của thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi nửa mặt đa trung tâm thực hiện tại Hàn Quốc (phân tích 93 người, theo dõi 48 tuần).

Phản ứng bất lợi tại chỗ của filler axit hyaluronic vùng rãnh mũi má (93 người Hàn Quốc, đa trung tâm ngẫu nhiên mù đôi)
Hạng mụcNhóm thử nghiệmNhóm chứng
Thang điểm nếp nhăn ở tuần 24 (WSRS)1.851.84 (đạt tiêu chí không thua kém)
Tỷ lệ phát sinh phản ứng bất lợi tại chỗ92%82% (p = 0.0355)
Nội dungĐau khi ấn · đau · phù nề · ban đỏ — toàn bộ tự hết trong vòng 2 tuần, 0 ca phản ứng bất lợi nghiêm trọng

Bạn có thể sẽ giật mình khi xem con số này. Hầu hết bệnh nhân đều có phản ứng gì đó. Tuy nhiên tất cả đều biến mất trong vòng 2 tuần và không có gì nghiêm trọng. Cách mô tả “gần như không có tác dụng phụ” là không khớp với dữ liệu này.

Thời gian duy trì cũng khác nhau theo nhóm sản phẩm. Trong phân tích gộp mạng lưới gom 13 thử nghiệm ngẫu nhiên, mốc đánh giá chính của axit hyaluronic là thời điểm 6 tháng, còn PLLA thì vượt trội trong khoảng 3~13 tháng và hiệu quả duy trì đến 25 tháng. Cũng trong phân tích đó, axit hyaluronic có nguy cơ hình thành nốt thấp hơn có ý nghĩa so với collagen bò (nguy cơ tương đối 0.593).

Vậy nên khái quát hóa câu “filler được 1~2 năm” cho axit hyaluronic là không chính xác. Con số 13~25 tháng là dữ liệu của phía PLLA.

Tổng kết — điều đã xác nhận và điều chưa xác nhận được

Tổng hợp bằng chứng của bài viết này
Phân loạiNội dung
Điều đã xác nhậnRãnh mũi má là cấu trúc do cơ bám trực tiếp vào lớp bì tạo ra và biến mất ở khuôn mặt bị liệt / dù có tuổi thì vị trí của đường vẫn cố định còn mô phía trên thì thay đổi / tương quan giữa thể tích và tuổi r = 0.727 / ở song sinh hút thuốc thì sâu hơn có ý nghĩa / bằng chứng của filler axit hyaluronic là cao nhất / chỉ tiêm ở gò má thì mô vùng rãnh mũi má không dịch chuyển / căng chỉ trong tổng quan hệ thống là gần như không có bằng chứng / vùng này chiếm 13~15% các báo cáo mù mắt do filler, và báo cáo từ châu Á · Hàn Quốc chiếm đa số
Điều được suy luậnCách giải thích rằng việc căng chỉ tái phát sớm là ‘vì lực căng được truyền qua da’ — điều này rút ra từ kết quả thử nghiệm kéo trên tử thi nhưng không phải là nghiên cứu nối trực tiếp với tỷ lệ tái phát trên lâm sàng
Điều chưa xác nhận đượcTỷ lệ đóng góp của từng cơ chế lão hóa / tỷ lệ phát sinh có mẫu số của biến chứng mạch máu do filler rãnh mũi má / số liệu thống kê chính thức về tác dụng phụ filler trong nước / thử nghiệm lấy rãnh mũi má làm tiêu chí đánh giá chính của độc tố botulinum / nghiên cứu lấy rãnh mũi má làm tiêu chí đánh giá của skin booster / thiết kế và cỡ mẫu của báo cáo năm 2017 nói rằng bù thể tích gò má có hiệu quả lên rãnh mũi má
Dữ liệu theo hướng ngược lạiCâu “độn má thì rãnh mũi má được nâng lên” đã bị phủ định trong theo dõi ba chiều / việc vùng giữa mặt ‘chảy xuống hay xẹp đi’ vẫn đang tranh luận trong giới học thuật / cách giải thích rằng biểu cảm lặp đi lặp lại là nguyên nhân đi ngược với nghiên cứu botox trên song sinh / có nghiên cứu cho thấy việc kéo lùi răng vì mục đích chỉnh nha lại cải thiện rãnh mũi má (39 người, có ý nghĩa ở nhóm dưới 30 tuổi)

Rút gọn thành một câu thì như sau. Rãnh mũi má không phải là thứ để xóa, mà là vấn đề sắp xếp lại phần mô vắt lên trên nó, và câu trả lời thay đổi tùy theo mô nào là vấn đề. Vì vậy chúng tôi không thể chốt cho bạn một thứ duy nhất kiểu “rãnh mũi má thì dùng cái này”.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao người trẻ cũng có rãnh mũi má?

Vì rãnh mũi má không phải là da bị gấp nếp mà là một cấu trúc. Trong nghiên cứu mô học tử thi năm 1989, người ta đã xác nhận các sợi cơ của nhóm cơ nâng môi trên xuyên qua cơ vòng miệng và bám trực tiếp vào lớp bì, và đường này biến mất ở khuôn mặt bị liệt còn sau khi chết thì vẫn còn. Nghĩa là nó là đường ranh giới hình thành dọc theo điểm mà cơ kéo lớp bì. Tuy nhiên cũng nghiên cứu đó báo cáo rằng khuôn mặt trẻ sơ sinh không có rãnh mũi má, nên cách nói "có từ khi sinh ra" là không chính xác.

Khi có tuổi thì rãnh mũi má bị khoét ra mới phải không?

Không phải. Theo nghiên cứu năm 2023 trên 50 đầu tử thi, vị trí của bản thân rãnh mũi má vẫn cố định do cơ bám vào, còn lớp mỡ má phía trên thì teo đi và hạ xuống, vắt lên trên đường ranh giới cố định đó. Trong nghiên cứu đo 87 người tình nguyện bình thường bằng phép đo ba chiều, thể tích rãnh mũi má tương quan với tuổi ở mức r=0.727. Nghĩa là không phải một đường vốn không có nay xuất hiện, mà là đường vốn đã có nay trông sâu hơn.

Tiêm filler vào má thì rãnh mũi má có được nâng lên không?

Trong nghiên cứu theo dõi ba chiều thì không. Người ta tiêm 1~3cc axit hyaluronic vào phía trên gò má cho 77 bệnh nhân rồi theo dõi sự thay đổi vị trí của lỗ chân lông để đo sự dịch chuyển của da; kết quả là chỉ tiêm ở gò má thì không phát sinh dịch chuyển trên mặt phẳng lẫn lực kéo lên mô vùng rãnh mũi má. Cải thiện chỉ xuất hiện khi tiêm trực tiếp vào rãnh mũi lệ. Tuy nhiên cũng có báo cáo năm 2017 nói một loại volumizer axit hyaluronic nhất định có hiệu quả tích cực bổ sung lên rãnh mũi má, mà chúng tôi không xác minh được thiết kế và cỡ mẫu của bài báo đó nên chúng tôi không khẳng định về bên nào.

Có thể nâng rãnh mũi má bằng căng chỉ không?

Bằng chứng rất yếu. Bài tổng quan tài liệu hệ thống năm 2018 (12 bài) kết luận rằng trong 10 năm qua gần như hoặc hoàn toàn không có bằng chứng thực chất nào được bổ sung để chống lưng cho tính hiệu quả và an toàn của căng chỉ, và nêu rõ rằng trong tất cả các tài liệu trừ 2 bài thì tính bền của hiệu quả là rất hạn chế nếu không muốn nói là hơn thế, còn 2 bài tích cực đó là nghiên cứu do nhà sản xuất chỉ tài trợ. Trong thử nghiệm kéo trên tử thi, người ta xác nhận rằng dù có khâu neo vào phần sâu của mỡ má thì lực căng vẫn được truyền qua da chứ không phải qua lớp mỡ, điều này giải thích cơ chế tái phát sớm.

Botox có cải thiện được rãnh mũi má không?

Chúng tôi không tìm thấy thử nghiệm ngẫu nhiên nào lấy rãnh mũi má làm tiêu chí đánh giá chính. Bằng chứng về tiêm độc tố vào nhóm cơ nâng môi trên tập trung ở chỉ định cười hở lợi. Ngược lại, trong nghiên cứu so sánh cặp song sinh cùng trứng tiêm botox định kỳ suốt 13 năm, rãnh mũi má là vùng không được tiêm botox thì lão hóa như nhau ở cả hai người. Tuy có được đưa ra như một lựa chọn giới hạn cho kiểu mà cơ kéo là yếu tố chính, nhưng đó là một đề xuất phân loại chứ không phải kết quả thử nghiệm. Để tham khảo, tiêm độc tố ở vùng này có nguy cơ sụp môi trên hoặc bất đối xứng.

Nói filler rãnh mũi má nguy hiểm có đúng không?

Tỷ trọng mà vùng này chiếm trong các báo cáo mù mắt liên quan đến filler là 13.3% trong bài tổng quan năm 2015 (98 ca) và 14.6% trong bài tổng quan cập nhật năm 2019 (lũy kế 146 ca). Trong bài tổng quan năm 2019, 81.3% filler gây ra là axit hyaluronic, đa số báo cáo là ở châu Á và Hàn Quốc nhiều nhất với 17 ca. Mù hoàn toàn là 52%. Tuy nhiên chúng tôi không tìm thấy thống kê tỷ lệ phát sinh có mẫu số kiểu "một ca trên bao nhiêu bơm tiêm". Nghĩa là không thể khẳng định là hiếm mà cũng không thể khẳng định là hay gặp.

Tiêm filler thì hầu hết đều sưng hoặc bầm phải không?

Trong thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi nửa mặt đa trung tâm thực hiện tại Hàn Quốc (phân tích 93 người), tỷ lệ phát sinh phản ứng bất lợi tại chỗ là 92% ở nhóm thử nghiệm và 82% ở nhóm chứng. Đó là đau khi ấn, đau, phù nề, ban đỏ; tất cả đều tự hết trong vòng 2 tuần và không có phản ứng bất lợi nghiêm trọng. Chỉ nhìn con số thì có vẻ cao, nhưng bạn hãy đọc nó theo nghĩa là hầu hết bệnh nhân đều có phản ứng nhẹ và phản ứng đó biến mất trong vòng 2 tuần. Cách mô tả "gần như không có tác dụng phụ" là không khớp với dữ liệu này.

Filler rãnh mũi má duy trì được bao lâu?

Khác nhau theo nhóm sản phẩm. Trong phân tích gộp mạng lưới gom 13 thử nghiệm ngẫu nhiên, mốc đánh giá chính của axit hyaluronic là thời điểm 6 tháng, còn thử nghiệm trên người Hàn Quốc thì theo dõi đến 48 tuần. PLLA (loại kích thích collagen) trong thử nghiệm ngẫu nhiên 233 người thì vượt trội so với nhóm chứng trong khoảng 3~13 tháng và hiệu quả duy trì đến 25 tháng. Nghĩa là con số "1~2 năm" hay được nói là dữ liệu của phía PLLA, và khó khái quát hóa y nguyên cho axit hyaluronic.

Nằm nghiêng thì rãnh mũi má có sâu thêm không?

Chúng tôi không tìm thấy bằng chứng chống lưng cho điều này. Trong nghiên cứu quan sát về tương quan giữa tư thế ngủ và nếp nhăn trên mặt (64 người tham gia) thì không có tương quan có ý nghĩa, và tài liệu năm 2016 hay được trích dẫn không phải nghiên cứu gốc mà là bài tổng quan tài liệu, không có dữ liệu thực nghiệm có nhóm chứng của chính nó. Tuy nhiên việc tư thế làm thay đổi tức thì thể tích rãnh mũi má là sự thật — trong nghiên cứu 87 người, khi nằm rồi đứng dậy thì thể tích thay đổi có ý nghĩa và ở thế hệ các bà mẹ thì tăng 32%. Đây là hiệu ứng "nằm xuống thì trông ít hơn" chứ không phải bằng chứng cho câu "nằm nghiêng thì sinh nếp nhăn".

Bài tập biểu cảm hay massage có giúp ích không?

Đối với rãnh mũi má thì không có bằng chứng. Trong thử nghiệm thực hiện 32 bài tập biểu cảm suốt 20 tuần (16 người hoàn thành, không có nhóm chứng), trong 20 mục thì chỉ có hai mục là độ đầy đặn của má trên và má dưới cải thiện có ý nghĩa thống kê, và rãnh mũi má không nằm trong đó. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên massage 8 tuần trên 34 phụ nữ Hàn Quốc, độ đàn hồi tổng của nhóm dùng con lăn tăng 8.6% (p<0.001) nhưng rãnh mũi má không được đo trực tiếp, và chính các tác giả cũng chỉ suy luận về cải thiện dài hạn. Cái có bằng chứng chắc chắn là bỏ thuốc lá, và trong so sánh 79 cặp song sinh cùng trứng thì bên có hút thuốc có rãnh mũi má sâu hơn có ý nghĩa.

Cơ sở y tế biên soạn

Bài viết này do Bác sĩ Lee Chi-Hak, giám đốc y khoa Phòng khám Miso tại Daegu, Hàn Quốc biên soạn và rà soát. Các nghiên cứu được trích dẫn trong bài đều được ghi kèm cả thiết kế, quy mô lẫn giới hạn mà chính tác giả đã nêu, và những mục chúng tôi không tìm được tài liệu thì được ghi là không tìm được.

Phòng khám Miso
Giám đốc y khoaBác sĩ Lee Chi-Hak
Địa chỉTầng 4, tòa nhà Bombom, 125 Dongdeok-ro, Jung-gu, Daegu, Hàn Quốc (lối ra số 1 ga Kyungpook National University Hospital)
Điện thoại+82-53-428-2700
Giờ khámNgày thường 11:00~19:00 (nghỉ trưa 13:00~14:00) / Thứ Bảy 10:00~16:00 (khám liên tục, không nghỉ trưa) / Chủ Nhật · ngày lễ nghỉ
Chuyên mục lâm sàngXem toàn bộ bài viết
Thư viện tài liệu lâm sàngXem toàn bộ tài liệu về chất kích thích tạo collagen · thiết bị nâng cơ

Tài liệu tham khảo

  1. Cấu trúc của rãnh mũi má được xác nhận từ Rubin LR và cs., Plast Reconstr Surg 1989;83(1) (mô học 4 tử thi tươi — sợi cơ xuyên qua cơ vòng miệng và bám trực tiếp vào lớp bì, không có ở trẻ sơ sinh, biến mất ở khuôn mặt bị liệt và vẫn còn sau khi chết), Pessa JE · Brown F, Aesthetic Plast Surg 1992;16(2) (LLSAN = phần trong, LLS = một phần ba giữa; cỡ mẫu không được ghi trong tóm tắt), Snider CC và cs., Aesthetic Plast Surg 2017;41(5) (12 nửa mặt — malar levator được xác nhận ở toàn bộ mẫu).
  2. Khoang mỡ và cơ chế lão hóa là Rohrich RJ · Pessa JE, Plast Reconstr Surg 2007;119(7) (30 nửa mặt tử thi — đây là bài báo giải phẫu và không đo lượng teo), Minelli L · Mendelson BC và cs., Aesthet Surg J 2023;43(9) (50 đầu tử thi, mô học · micro-CT · thử nghiệm kéo cơ học — vị trí rãnh mũi má cố định, lực căng được truyền qua da), Gierloff M và cs., Plast Reconstr Surg 2012;129(1) (CT tử thi — các khoang mỡ dịch chuyển xuống dưới; chúng tôi không xác minh được cỡ mẫu chính xác).
  3. Đo thể tích là See MS và cs., Eur J Plast Surg 2007 (đo ảnh lập thể ba chiều, 87 người tình nguyện bình thường 13–84 tuổi + 15 cặp mẹ con — thể tích 0.0026–0.2306 mL, tương quan với tuổi r = 0.7269, p < 0.0001, thay đổi từ tư thế nằm ngửa→đứng thẳng p = 0.0012, nhóm các bà mẹ tăng 32%). Khung xương là Shaw RB Jr · Kahn DM, Plast Reconstr Surg 2007;119(2) (CT ba chiều 60 người da trắng — góc hàm trên giảm có ý nghĩa) và Fourgeot và cs., Aesthet Surg J 2021;41(12) (CT 2 lần trên cùng một người, 56 người, cách nhau trung bình hơn 7 năm — góc p < 0.0001).
  4. Các yếu tố lối sống là Okada HC và cs., Plast Reconstr Surg 2013;132(5) (79 cặp song sinh cùng trứng, khác nhau về tiền sử hút thuốc — người song sinh có hút thuốc có rãnh mũi má sâu hơn có ý nghĩa; trong tóm tắt công khai không có giá trị p), Guyuron B và cs., Plast Reconstr Surg 2009;123(4) (186 cặp song sinh — phơi nắng p = 0.015), Hughes MCB và cs., Ann Intern Med 2013;158(11) (thử nghiệm ngẫu nhiên tại Úc 903 người · 4.5 năm — tiến triển lão hóa ít hơn 24%, OR 0.76 [95% CI 0.59–0.98]; vùng đo là mu bàn tay chứ không phải rãnh mũi má), Binder WJ, Arch Facial Plast Surg 2006;8(6) (2 người song sinh cùng trứng, 13 năm — rãnh mũi má là vùng không được điều trị botox thì lão hóa như nhau).
  5. Bằng chứng về filler là Li và cs., Aesthetic Plast Surg 2024 (phân tích gộp mạng lưới 13 thử nghiệm ngẫu nhiên — ở mốc 6 tháng HA > PLLA, HA có nguy cơ nốt RR 0.593 [95% CI 0.438–0.803] so với collagen bò), Lee SH và cs., Aesthet Surg J 2026;46(5) (đa trung tâm Hàn Quốc, ngẫu nhiên · mù đôi · nửa mặt, không thua kém, phân tích 93 người, 48 tuần — WSRS tuần 24 là 1.85 so với 1.84, phản ứng bất lợi tại chỗ 92% so với 82%, p = 0.0355, toàn bộ hết trong vòng 2 tuần), Narins RS và cs., JAAD 2010;62(3) (233 người, ngẫu nhiên · mù người đánh giá — PLLA vượt trội trong 3–13 tháng, hiệu quả duy trì 25 tháng).
  6. Hiệu quả gián tiếp của thể tích má là Mowlds DS · Lambros V, Plast Reconstr Surg 2018 (77 người, HA 1–3cc vào gò má, định lượng vector dịch chuyển của da bằng cách theo dõi vị trí lỗ chân lông, phân tích 37 người có biểu cảm nhất quán — không có dịch chuyển trên mặt phẳng lẫn lực kéo lên mô rãnh mũi má). Có tồn tại báo cáo cho kết quả ngược lại (Clin Cosmet Investig Dermatol 2017) nhưng chúng tôi không xác minh được thiết kế · cỡ mẫu · các con số. Căng chỉ là Gülbitti HA và cs., Plast Reconstr Surg 2018 (tổng quan hệ thống 12 bài — gần như không có bằng chứng thực chất, 2 bài tích cực do nhà sản xuất tài trợ).
  7. Bằng chứng về thiết bị là Contini M và cs., IJERPH 2023;20(2):1522 (siêu âm 16 bài · khoảng 573 người — nâng chân mày 0.47–1.7mm, dịch chuyển đường marionette 2.4–3.8%; một nghiên cứu mô tả rằng đáp ứng ở vùng chân mày cao hơn ở rãnh mũi má) và Shin và cs., Cosmetics 2024;11(3):71 (sóng cao tần đơn cực, 20 phụ nữ trung bình 47.95 tuổi — sự chùng của rãnh mũi má cải thiện có ý nghĩa ở tuần 12, duy trì đến tuần 24; đây là đoàn hệ một nhóm không có nhóm chứng).
  8. Giải phẫu mạch máu và biến chứng là Peng và cs., Aesthetic Plast Surg 2024 (52 tử thi người châu Á, tái dựng ba chiều CTA — 83.7% chuyển tiếp thành động mạch góc, khuyến nghị một phần ba trên ở lớp trên màng xương · hai phần ba dưới ở lớp bì), Hong và cs., Aesthetic Plast Surg 2025 (siêu âm 45 người Hàn Quốc — 38% có biến thể đường đi, 20 người tiêm dưới hướng dẫn siêu âm có 0 biến chứng trong 12 tuần), Liao và cs., Aesthetic Plast Surg 2025 (12 người thiếu máu cục bộ da — 75% theo kiểu rãnh mũi má + toàn bộ mũi).
  9. Thống kê mù mắt là Beleznay K và cs., Dermatol Surg 2015 (98 ca — vùng giữa hai chân mày 38.8%, vùng mũi 25.5%, rãnh mũi má 13.3%; chúng tôi không lấy được trực tiếp tóm tắt gốc nên đây là xác nhận thứ cấp qua văn bản hướng dẫn lâm sàng), Beleznay K và cs., Aesthet Surg J 2019;39(6) (48 ca mới · lũy kế 146 ca — vùng mũi 56.3%, vùng giữa hai chân mày 27.1%, rãnh mũi má 14.6% (7 ca), HA 81.3%, Hàn Quốc 17 ca nhiều nhất, mù hoàn toàn 52%), Park KH và cs. (Hội Võng mạc Hàn Quốc), JAMA Ophthalmol 2014;132(6) (khảo sát 27 trung tâm võng mạc toàn quốc, 44 người — mỡ tự thân 22 · HA 13, lan tỏa 28 · khu trú 16; phân bố theo vùng tiêm không có trong tóm tắt nên chúng tôi không xác minh được).
  10. Chăm sóc trong sinh hoạt là Alam M và cs., JAMA Dermatol 2018;154(3) (thí điểm, đăng ký 27 người · hoàn thành 16 người, không có nhóm chứng — trong 20 mục thì chỉ 2 mục là độ đầy đặn má trên · má dưới có ý nghĩa, p = .003, tuổi ước lượng 50.8→48.1; rãnh mũi má không phải là mục cải thiện có ý nghĩa) và Ahn SH và cs., J Cosmet Dermatol 2025;24(6) (34 phụ nữ Hàn Quốc, ngẫu nhiên, 8 tuần — nhóm con lăn có độ đàn hồi tổng +8.6%, p < 0.001; rãnh mũi má không được đo trực tiếp). Tài liệu liên quan đến tư thế ngủ là Anson G và cs., Aesthet Surg J 2016;36(8) (không phải nghiên cứu gốc mà là bài tổng quan tài liệu) và nghiên cứu quan sát 64 người (không có tương quan có ý nghĩa).
  11. Những điều chúng tôi ghi là “không tìm thấy” — tỷ lệ đóng góp của từng cơ chế lão hóa, tỷ lệ phát sinh có mẫu số của biến chứng mạch máu do filler rãnh mũi má, số liệu thống kê chính thức của MFDS · Cơ quan Bảo vệ Người tiêu dùng trong nước về tác dụng phụ filler, thử nghiệm lấy rãnh mũi má làm tiêu chí đánh giá chính của độc tố botulinum, nghiên cứu lấy rãnh mũi má làm tiêu chí đánh giá của skin booster.
  12. Bài viết này không bảo đảm hiệu quả của bất kỳ thủ thuật cụ thể nào và không so sánh · đánh giá bất kỳ cơ sở y tế cụ thể nào. Chỉ định và kết quả dự kiến khác nhau tùy tình trạng của mỗi người, và bạn cần được tư vấn qua thăm khám.

Mọi bài viết trong chuyên mục này nhằm cung cấp thông tin chung và không thay thế cho chẩn đoán hay điều trị y khoa. Hiệu quả và tác dụng không mong muốn của thủ thuật có thể biểu hiện khác nhau tùy theo tình trạng da, độ tuổi và bệnh nền của từng người, và không bảo đảm kết quả giống nhau cho mọi người. Việc có thực hiện thủ thuật hay không nhất định phải được quyết định thông qua buổi khám trực tiếp với nhân viên y tế.

← Chuyên mục lâm sàng · Thư viện tài liệu lâm sàng · Trang chủ Phòng khám Miso

한국어 · English · 日本語 · 简体中文 · Español · Tiếng Việt · ภาษาไทย · Bahasa Indonesia