Hàng nội địa và hàng chỉ để xuất khẩu — số đăng ký trông giống hệt, tư cách thì khác
Ở hai bài trước chúng tôi đã viết rằng “cứ kiểm tra số đăng ký là được”. Bài này là bài nói cho quý vị biết giới hạn của thói quen đó. Sản phẩm chỉ nhằm mục đích xuất khẩu cũng nhận số đăng ký lưu hành của MFDS. Là con số có hình thức hoàn toàn giống hàng nội địa, kiểu như “Je-heo 26-657”. Thế nhưng sản phẩm đó không được dùng cho người bệnh trong nước. Thứ tách hai bên ra chỉ là một ô trên màn hình tra cứu ghi “chỉ dùng để xuất khẩu”, và ai cũng xem được ô đó.
Kết luận trước
Thiết bị y tế chỉ để xuất khẩu cũng nhận số đăng ký lưu hành chính thức. Chúng tôi đã tự tra cứu và thấy một sản phẩm nội địa với một sản phẩm chỉ để xuất khẩu mang những con số có hình thức hoàn toàn giống nhau, kiểu “Je-heo 26-667” và “Je-heo 26-657”. Thứ tách chúng ra là một ô ghi “chỉ dùng để xuất khẩu” nằm bên trong màn hình tra cứu của MFDS. Và vấn đề này không nhỏ — trong 1,010 sản phẩm tìm được với từ khóa “vật liệu sinh học phục hồi mô” thì 745 sản phẩm (73.8%) là hàng chỉ để xuất khẩu (tra cứu ngày 4 tháng 9 năm 2026). Luật Thiết bị y tế, Điều 26 khoản 1 quy định “bất kỳ ai” cũng không được “bán · cho thuê · cho tặng hoặc sử dụng” thiết bị y tế chưa được cấp phép, và ngoại lệ chỉ có mục đích trưng bày. Vì chủ ngữ là “bất kỳ ai” nên cơ sở y tế đã dùng trong thủ thuật cũng thuộc phạm vi. Việc người bệnh làm được thì đơn giản — hỏi số đăng ký của sản phẩm, rồi tra số đó trên trang của MFDS để xác minh ô “chỉ dùng để xuất khẩu” có ghi “không” hay không. Có điều tra cứu không ra thì không có nghĩa là bất hợp pháp — tìm theo tên thương hiệu thì thường là không ra.
Hàng xuất khẩu cũng nhận số đăng ký — chúng tôi đã tự tra cứu
Chúng tôi xin đặt cạnh nhau hai sản phẩm được cấp phép cùng một tên chủng loại (vật liệu sinh học phục hồi mô, hạng 4). Đây là kết quả tự tra cứu ngày 4 tháng 9 năm 2026 trên cổng tra cứu thiết bị y tế của MFDS.
| Mục | Je-heo 26-667 | Je-heo 26-657 |
|---|---|---|
| Tên chủng loại · hạng | Vật liệu sinh học phục hồi mô · hạng 4 | Vật liệu sinh học phục hồi mô · hạng 4 |
| Trạng thái sản phẩm | Bình thường | Bình thường |
| Mã chuẩn (UDI) | 1 mã | 0 mã |
| Chỉ dùng để xuất khẩu | Không | Có |
Chỉ nhìn con số thì không biết được. Cả hai đều là “Je-heo 26-6xx” và cả hai đều có trạng thái sản phẩm là “bình thường”. Ở hai bài trước chúng tôi đã viết “hãy kiểm tra số đăng ký”, nhưng chỉ riêng việc có số thì không cho biết đó có phải sản phẩm dùng được trong nước hay không. Phải nhìn thêm một ô nữa.
Một manh mối phụ là việc có gắn mã chuẩn (UDI) hay không cũng khác nhau. Vì mã chuẩn áp dụng cho thiết bị y tế lưu thông · bán trong nước, còn hàng xuất khẩu thì chỉ cần theo chuẩn của nước nhập. Tuy vậy chúng tôi mới xác minh được hai trường hợp nên xin quý vị chỉ dùng như một manh mối bổ trợ.
Vì sao hàng chỉ để xuất khẩu lại nhiều đến thế
Cùng ngày hôm đó chúng tôi đã đếm toàn bộ sản phẩm tìm được với từ khóa “vật liệu sinh học phục hồi mô”.
| Tổng | 1,010 sản phẩm |
|---|---|
| Chỉ dùng để xuất khẩu = có | 745 sản phẩm (73.8%) |
| Chỉ dùng để xuất khẩu = không | 265 sản phẩm (26.2%) |
Cứ bốn cái thì ba cái là hàng chỉ để xuất khẩu. Đây không phải con số sinh ra do ai đó làm sai, mà trông như là kết quả của thiết kế thể chế. Thiết bị y tế chỉ nhằm mục đích xuất khẩu được miễn một phần hồ sơ phải nộp, và phải ghi “chỉ dùng để xuất khẩu” vào mục ghi chú của đơn đăng ký. Trong khi cấp phép hạng 4 cho hàng bán trong nước thì cần tài liệu lâm sàng, còn hàng xuất khẩu thì gánh nặng đó nhẹ đi rất nhiều. Đứng ở phía nhà sản xuất thì chi phí gia nhập không thể so sánh được.
Nói ngược lại thì là thế này. Sản phẩm xuất khẩu là sản phẩm chưa được thẩm định để bán trong nước. Phần hồ sơ được miễn chính là những tài liệu xác minh tính an toàn · hiệu năng. Chúng tôi đã viết ở bài trước rằng “cấp phép không phải là bảo chứng cho hiệu quả”, và với hàng xuất khẩu thì bản thân ngưỡng cấp phép đó đã khác.
Một điều khi đọc con số — đây là số lượng sản phẩm chứ không phải lượng lưu thông thực tế. Không có nghĩa là cả 745 sản phẩm đều đang chạy ngoài thị trường. Có điều chính việc sổ đăng ký trong nước ghi nhận chừng ấy sản phẩm chỉ để xuất khẩu đã tạo ra nhu cầu người bệnh phải xác minh.
Có được dùng cho người bệnh trong nước không — điều luật
Câu chữ của Luật Thiết bị y tế, Điều 26 (Cấm các hành vi chung) khoản 1 như sau.
“Bất kỳ ai cũng không được sửa chữa · bán · cho thuê · cho tặng hoặc sử dụng thiết bị y tế chưa được cấp phép hoặc chứng nhận, hoặc chưa được khai báo, và không được sản xuất · nhập khẩu · sửa chữa · lưu kho hoặc bày biện nhằm mục đích bán · cho thuê · cho tặng hoặc sử dụng.”
Ở đây quý vị phải nhìn hai điều. Thứ nhất, chủ ngữ là “bất kỳ ai”. Không chỉ nhà sản xuất hay đơn vị kinh doanh mà cả người đã sử dụng cũng nằm trong đó. Thứ hai, ngoại lệ ở phần trừ chỉ là “mục đích trưng bày tại hội chợ · triển lãm · hội chợ triển lãm v.v.” và không có ngoại lệ nào liên quan xuất khẩu.
Sản phẩm được cấp phép với ghi chú “chỉ dùng để xuất khẩu” là thiết bị y tế chưa được cấp phép để bán trong nước, nên nếu dùng nó trong nước thì rơi vào “sử dụng thiết bị y tế chưa được cấp phép” của điều khoản trên. MFDS trong tập hỏi đáp cũng trả lời rằng “thiết bị y tế chỉ để xuất khẩu là sản phẩm được cấp phép chỉ nhằm mục đích xuất khẩu chứ không bán trong nước, nên nếu muốn lưu thông trong nước thì phải xin cấp phép · chứng nhận riêng”, và cũng xem việc trưng bày · quảng bá tại hội chợ trong nước cũng thuộc “lưu thông trong nước”.
| Vi phạm Điều 26 khoản 1 | Luật Thiết bị y tế, Điều 51 khoản 1 mục 2 — phạt tù đến 5 năm hoặc phạt tiền đến 50 triệu won (theo khoản 2 của cùng điều, có thể áp dụng đồng thời cả tù và phạt tiền) |
|---|
Trong các tài liệu trên mạng vẫn còn lưu truyền loại ghi mức phạt tiền tối đa là 20 triệu won. Đó là điều luật cũ. Điều luật hiện hành mà chúng tôi xác minh được là 50 triệu won. Tuy vậy pháp luật có sửa đổi nên đoạn này là theo mốc ngày 4 tháng 9 năm 2026, và nếu quý vị có dịp trích dẫn thì xin xác minh lại điều luật hiện hành tại Trung tâm Thông tin Pháp luật Quốc gia.
Xin phân biệt ba thứ — chưa cấp phép · chỉ để xuất khẩu · đã hủy
Kết luận là không dùng được cho người bệnh trong nước thì như nhau, nhưng hình dạng nhìn thấy trên màn hình tra cứu lại hoàn toàn khác nhau.
| Trạng thái | Kết quả tra cứu | Phải nhìn vào đâu |
|---|---|---|
| Chưa cấp phép | Hoàn toàn không có trong sổ đăng ký — 0 kết quả | Bản thân con số không tồn tại hoặc không tra ra |
| Chỉ để xuất khẩu | Có ghi nhận bình thường · có số đăng ký · trạng thái sản phẩm “bình thường” | “Chỉ dùng để xuất khẩu” = có |
| Đã hủy · đã rút · hết hạn | Có trong sổ đăng ký nhưng trạng thái không phải bình thường | “Trạng thái sản phẩm” |
| Dùng được trong nước | Có ghi nhận bình thường · trạng thái bình thường | Chỉ dùng để xuất khẩu = không |
Thứ dễ nhầm hơn cả là hàng ở giữa. Sản phẩm chỉ để xuất khẩu trông như không có vấn đề gì — có số chính thức và trạng thái sản phẩm cũng là “bình thường”. Phải mở thông tin chi tiết ra và nhìn thêm một ô nữa thì mới lộ.
Cách tự tra cứu
Ai cũng làm được trên cổng tra cứu thiết bị y tế của MFDS (emedi.mfds.go.kr, tên tiếng Hàn là 의료기기안심책방). Cũng không cần đăng ký tài khoản.
| 1 | Hỏi bệnh viện số đăng ký lưu hành sản phẩm (제허 · 수허 · 제인 · 수인 · 제신 · 수신 + con số) |
|---|---|
| 2 | Vào cổng tra cứu → tìm kiếm sản phẩm và doanh nghiệp |
| 3 | Nhập không có khoảng trắng vào ô số đăng ký lưu hành — ví dụ “제허26-657호” |
| 4 | Bấm vào dòng kết quả để mở thông tin chi tiết |
| 5 | Nhìn ba thứ trong bảng thông tin sản phẩm — trạng thái sản phẩm (có bình thường không) · chỉ dùng để xuất khẩu (có ghi “không” không) · tên doanh nghiệp · nước sản xuất (có khớp với điều được nghe không) |
Nếu quý vị không nhận được số đăng ký thì có thể tìm theo tên model, hoặc dùng chức năng chụp mã vạch trên hộp sản phẩm để tra. Mở [mở rộng điều kiện tra cứu] trên màn hình tìm kiếm thì còn có thể đặt chính “chỉ dùng để xuất khẩu” làm bộ lọc (tuy vậy phải dùng kèm với từ khóa tìm kiếm).
“Tra cứu không ra” không có nghĩa là bất hợp pháp
Đây là cái bẫy chúng tôi tự xác minh được. Tìm theo tên thương hiệu thì thường là không ra. Chúng tôi đã thử nhập tên những thương hiệu filler nổi tiếng vào cả ô tên gọi lẫn ô tên sản phẩm của điều kiện mở rộng, nhưng đều 0 kết quả. Lý do là có nhiều sản phẩm mà trường “tên sản phẩm” trong thông tin chi tiết bị bỏ trống — ngay cả sản phẩm nội địa mà chúng tôi xem ở trên cũng có tên sản phẩm là ô trống. Vậy nên việc không ra theo tên thương hiệu là chuyện thường gặp, và tự nó không chứng minh điều gì cả. Xin nhất định tra theo số đăng ký.
Việc tra cứu còn có thêm một giới hạn nữa. Thứ tra cứu cho biết chỉ tới mức “sản phẩm mang số đăng ký đó có dùng được trong nước hay không”. Còn thứ đang nằm trong ống tiêm trước mắt quý vị có thật đúng là sản phẩm đó hay không thì tra cứu không cho biết được. Cũng có cách xem phần ghi nhãn bằng tiếng Hàn, nhưng nếu bệnh viện mở bao bì gốc ra rồi mới dùng thì người bệnh không có dịp nhìn thấy. Đây là giới hạn tận gốc của cách làm này, và vì vậy chúng tôi không viết rằng “xác minh xong là yên tâm”.
Khác biệt nhìn thấy trên bao bì
Sản phẩm lưu thông trong nước có những thứ phải ghi trên bao bì hoặc vỏ ngoài theo Luật Thiết bị y tế, Điều 20.
| Mục | Hàng nội địa | Hàng xuất khẩu |
|---|---|---|
| Ghi nhãn tiếng Hàn | Về nguyên tắc là tiếng Hàn | Có thể dùng ngôn ngữ nước nhập |
| Số cấp phép · chứng nhận · khai báo | Bắt buộc | Chỉ cần theo chuẩn của nước nhập |
| Đơn vị sản xuất · nhập khẩu, hàng nhập thì thêm nơi sản xuất gốc | Bắt buộc | Theo chuẩn nước nhập |
| Số lô · tháng năm sản xuất (nếu có hạn dùng thì hạn dùng) | Bắt buộc | Theo chuẩn nước nhập |
| Mã chuẩn (UDI) | Bắt buộc | Theo chuẩn nước nhập |
Vì vậy nếu hoàn toàn không có phần ghi nhãn tiếng Hàn, hoặc không có nơi sản xuất gốc · số cấp phép tiếng Hàn · hạn dùng tiếng Hàn mà chỉ in bằng tiếng nước ngoài thì có khả năng đó không phải sản phẩm được ghi nhãn để lưu thông trong nước. Tuy vậy đây chỉ là manh mối chứ không phải bằng chứng — nếu bệnh viện mở hộp ra rồi mới dùng thì không nhìn thấy được, và muốn xác minh thì rốt cuộc vẫn phải quay lại việc tra số đăng ký.
Nhập khẩu song song · mua trực tiếp từ nước ngoài
Cũng ra từ chính điều luật đó. Dù là bệnh viện hay cá nhân thì cũng không được dùng trong nước thiết bị y tế mua trực tiếp từ nước ngoài. Vì việc nhập khẩu được quy định là do người có giấy phép kinh doanh nhập khẩu thực hiện, và sản phẩm không vào theo đường đó thì trở thành “thiết bị y tế chưa được cấp phép”. Giải thích của MFDS là dù mua để tự mình dùng thì cũng vậy.
Mua ngay tại chỗ một thiết bị ưng ý ở hội chợ cũng không được. Như đã thấy ở trên, ngoại lệ của Điều 26 khoản 1 chỉ là “mục đích trưng bày” chứ không phải bán hay mua.
Tháng 3 năm 2025, MFDS cho biết sẽ cùng các tổ chức người tiêu dùng · hiệp hội xây dựng hệ thống theo dõi thường xuyên đối với việc lưu thông bất hợp pháp thiết bị y tế mua trực tiếp từ nước ngoài. Các sản phẩm bị nêu là đã phát hiện gồm máy triệt lông laser · máy đo huyết áp · dụng cụ hút chân không · dụng cụ chống ngáy · dụng cụ chống nghiến răng · máy khí dung v.v.
Thực tế có trường hợp nào bị phát hiện chưa — điều xác minh được và điều không
Chúng tôi xin viết thành thật. Chúng tôi không tìm được trường hợp phát hiện · xử lý được công bố thuộc dạng “bệnh viện · phòng khám trong nước đã dùng cho người bệnh một thiết bị y tế chỉ được cấp phép để xuất khẩu”.
Điều đó không có nghĩa là “không có chuyện như vậy”. Trông như có lý do mang tính cấu trúc — thông báo xử phạt hành chính về thiết bị y tế của MFDS nhắm vào đơn vị sản xuất · nhập khẩu · kinh doanh, còn cơ sở y tế thì theo Luật Thiết bị y tế là “người sử dụng” nên không thuộc đối tượng của các xử phạt đó. Chế tài về phía cơ sở y tế đi theo đường xử lý hình sự, mà đường này không được tổng hợp thành cơ sở dữ liệu công khai. Vì vậy cách nói chính xác là không xác minh được bằng tài liệu công khai.
Các bản án xác minh được thì có tính chất hơi khác. Trong một vụ lưu thông thiết bị laser v.v. nhập khẩu không phép, Điều 26 khoản 1 đã được áp dụng và tuyên án tù (cho hưởng án treo) và truy thu. Ngoài ra, tuy là vụ việc thuộc Luật Dược · về thuốc, nhưng phán quyết rằng “nếu nhà sản xuất chuyển quyền sở hữu cho đơn vị xuất khẩu trong nước và nhận thanh toán thì dù sắp tới hàng sẽ được xuất khẩu, việc đó vẫn là bán” đã được đưa ra trong năm 2024 và 2025. Vì không phải vụ việc về thiết bị y tế nên không thể bê nguyên sang, nhưng hướng “dù làm ra để xuất khẩu, nếu đổi tay trong nước thì là bán trong nước” thì có thể tham khảo.
Hỏi không phải là một đòi hỏi quá đáng
Chúng tôi mong quý vị đừng đọc bài này thành “hãy nghi ngờ bệnh viện”. Luật Thiết bị y tế, Điều 20 đặt nghĩa vụ ghi số đăng ký trên bao bì · vỏ ngoài sản phẩm lên vai đơn vị sản xuất · nhập khẩu. Nếu là sản phẩm được lưu thông bình thường thì bệnh viện đang ở vị trí xác minh được con số đó.
Vậy nên “xin cho tôi biết số đăng ký của sản phẩm” không phải là đòi hỏi quá đáng mà là một thủ tục xác minh hết sức bình thường. Với sản phẩm hạng 4 thì càng như vậy. Quý vị hỏi thì chúng tôi cho biết. Và cả khi quý vị không hỏi, chúng tôi cũng định nói trước trong buổi tư vấn.
Hai bài trước của loạt bài này quý vị xem cùng thì tốt — số đăng ký nghĩa là gì bàn về khác biệt giữa số đăng ký lưu hành sản phẩm và số thẩm định quảng cáo, còn Je-heo · Su-heo · chứng nhận bàn về những thứ một dòng số xác minh được và những thứ nó không xác minh được.
Tổng kết — điều đã xác minh, điều chưa xác minh được
| Phân loại | Nội dung |
|---|---|
| Điều đã xác minh | Sản phẩm xuất khẩu cũng nhận số đăng ký lưu hành chính thức (đã tra cứu thực tế Je-heo 26-657) · vật liệu sinh học phục hồi mô 745 trong 1,010 sản phẩm (73.8%) là chỉ để xuất khẩu · chủ ngữ của Luật Thiết bị y tế, Điều 26 khoản 1 là “bất kỳ ai” và ngoại lệ chỉ là mục đích trưng bày · chế tài là Điều 51 khoản 1 mục 2, phạt tù đến 5 năm hoặc phạt tiền đến 50 triệu won · trong thông tin chi tiết của cổng tra cứu có công khai ô “chỉ dùng để xuất khẩu” · tìm theo tên thương hiệu thì thường là không ra (nhiều sản phẩm có trường tên sản phẩm bỏ trống) |
| Điều chưa xác minh được | Trường hợp phát hiện · xử lý được công bố với bệnh viện · phòng khám đã dùng sản phẩm xuất khẩu cho người bệnh trong nước — không có nghĩa là không có, mà là không xác minh được bằng tài liệu công khai · việc dùng thiết bị y tế chưa cấp phép có kèm theo xử lý riêng liên quan chứng chỉ hành nghề bác sĩ hay không · báo cáo cụ thể nào cho thấy hàng nội địa và hàng xuất khẩu của cùng một thương hiệu thực sự khác nhau về quy cách — chúng tôi chỉ xác minh được tới mức rằng về thể chế thì có thể khác |
| Điều cần đọc thận trọng | Trong các bản án được dẫn, phần “dù dự định xuất khẩu, nếu đổi tay trong nước thì là bán” là vụ việc thuộc Luật Dược · về thuốc chứ không phải vụ việc về thiết bị y tế · số điều của thông báo làm căn cứ cho chế độ hàng xuất khẩu là thứ chúng tôi xác minh qua nguyên văn bản cũ và qua tài liệu thứ cấp nên cần xác minh lại trong bản hiện hành · con số 745 là số lượng sản phẩm chứ không phải lượng lưu thông · nội dung pháp luật trong bài này là theo mốc ngày 4 tháng 9 năm 2026 |
Một dòng mà bài này muốn để lại. Việc có số đăng ký và việc dùng được trong nước là hai chuyện khác nhau. Việc xác minh không phải là một dòng số mà là ba ô — số đăng ký + trạng thái sản phẩm + chỉ dùng để xuất khẩu.
Câu hỏi thường gặp
Thiết bị y tế chỉ để xuất khẩu là sản phẩm chưa được cấp phép phải không?
Không phải. Hàng xuất khẩu cũng nhận số đăng ký lưu hành của MFDS. Sản phẩm chỉ để xuất khẩu mà chúng tôi tra cứu có số “Je-heo 26-657” và trạng thái sản phẩm cũng là “bình thường”. Hình thức con số hoàn toàn giống số của sản phẩm nội địa. Chỉ có điều nó chưa được thẩm định để bán trong nước, và vì vậy không dùng được cho người bệnh trong nước.
Vậy nó khác hàng nội địa ở chỗ nào?
Hồ sơ phải nộp thì khác. Sản phẩm chỉ nhằm mục đích xuất khẩu được miễn một phần hồ sơ phải nộp và trên đơn đăng ký có ghi “chỉ dùng để xuất khẩu”. Thứ được miễn chính là những tài liệu xác minh tính an toàn · hiệu năng. Phần ghi nhãn cũng khác — hàng nội địa về nguyên tắc phải ghi số đăng ký · nơi sản xuất gốc · hạn dùng · mã chuẩn bằng tiếng Hàn, còn hàng xuất khẩu thì chỉ cần theo chuẩn của nước nhập.
Bệnh viện dùng sản phẩm xuất khẩu thì có bất hợp pháp không?
Luật Thiết bị y tế, Điều 26 khoản 1 quy định “bất kỳ ai” cũng không được “bán · cho thuê · cho tặng hoặc sử dụng” thiết bị y tế chưa được cấp phép, và ngoại lệ chỉ có mục đích trưng bày. Hàng xuất khẩu không phải sản phẩm được cấp phép để bán trong nước nên rơi vào đây. Vì chủ ngữ là “bất kỳ ai” nên cơ sở y tế đã sử dụng cũng thuộc phạm vi, và chế tài là phạt tù đến 5 năm hoặc phạt tiền đến 50 triệu won.
Làm sao xác minh sản phẩm dùng cho tôi có phải hàng nội địa không?
Sau khi hỏi bệnh viện số đăng ký lưu hành, xin vào mục “tìm kiếm sản phẩm và doanh nghiệp” của cổng tra cứu thiết bị y tế của MFDS (emedi.mfds.go.kr) và nhập con số đó không có khoảng trắng. Bấm vào kết quả để mở thông tin chi tiết thì sẽ thấy ô “chỉ dùng để xuất khẩu”. Phải là “không” thì mới là sản phẩm dùng được trong nước. Xin xem kèm cả trạng thái sản phẩm có “bình thường” không, và tên doanh nghiệp với nước sản xuất có khớp với điều quý vị được nghe không.
Tôi tìm theo tên thương hiệu mà không ra. Có vấn đề gì không?
Chỉ riêng điều đó thì không chứng minh được vấn đề gì cả. Chúng tôi đã tự xác minh và thấy rằng khi nhập tên những thương hiệu filler nổi tiếng vào cả ô tên gọi lẫn ô tên sản phẩm thì đều 0 kết quả. Lý do là có nhiều sản phẩm mà trường “tên sản phẩm” trong thông tin chi tiết bị bỏ trống — ngay cả sản phẩm nội địa bình thường cũng có tên sản phẩm là ô trống. Xin nhất định tra theo số đăng ký.
Hỏi số đăng ký thì có thất lễ không?
Hoàn toàn không. Luật Thiết bị y tế, Điều 20 đặt nghĩa vụ ghi số đăng ký trên bao bì hoặc vỏ ngoài sản phẩm lên vai đơn vị sản xuất · nhập khẩu. Nếu là sản phẩm được lưu thông bình thường thì bệnh viện đang ở vị trí xác minh được con số đó. “Xin cho tôi biết số đăng ký của sản phẩm” là một thủ tục xác minh hết sức bình thường, và với sản phẩm được xếp hạng 4 như filler thì càng như vậy.
Sản phẩm chỉ để xuất khẩu thật sự nhiều đến thế sao?
Theo mốc ngày 4 tháng 9 năm 2026, trong 1,010 sản phẩm tìm được với từ khóa “vật liệu sinh học phục hồi mô” thì 745 sản phẩm (73.8%) là chỉ để xuất khẩu. Cứ bốn cái thì ba cái. Tuy vậy đây là số lượng sản phẩm được ghi nhận trong sổ đăng ký chứ không phải lượng lưu thông thực tế. Không có nghĩa là cả 745 sản phẩm đều đang chạy ngoài thị trường.
Sản phẩm mua trực tiếp từ nước ngoài thì sao?
Dù là bệnh viện hay cá nhân thì cũng không dùng được. Vì việc nhập khẩu được quy định là do người có giấy phép kinh doanh nhập khẩu thực hiện, và sản phẩm không vào theo đường đó thì trở thành “thiết bị y tế chưa được cấp phép”. Giải thích của MFDS là dù mua để tự mình dùng thì cũng vậy. Mua ngay tại chỗ ở hội chợ cũng không được — ngoại lệ trong điều luật chỉ là “mục đích trưng bày” chứ không phải bán hay mua.
Tra cứu ra bình thường thì yên tâm được chưa?
Giới hạn của cách làm này là tới đó. Thứ tra cứu cho biết chỉ tới mức “sản phẩm mang số đăng ký đó có dùng được trong nước hay không”, còn thứ đang nằm trong ống tiêm trước mắt quý vị có thật đúng là sản phẩm đó hay không thì tra cứu không cho biết được. Có cách xem phần ghi nhãn tiếng Hàn nhưng nếu bệnh viện mở bao bì gốc ra rồi mới dùng thì không có dịp nhìn thấy. Vì vậy chúng tôi không viết rằng “xác minh xong là yên tâm”.
Thực tế đã có bệnh viện nào bị phát hiện chưa?
Chúng tôi không tìm được trường hợp được công bố thuộc dạng đó. Điều đó không có nghĩa là “không có chuyện như vậy” — thông báo xử phạt hành chính của MFDS nhắm vào đơn vị sản xuất · nhập khẩu · kinh doanh, còn cơ sở y tế theo Luật Thiết bị y tế là “người sử dụng” nên không thuộc đối tượng của các xử phạt đó, nên chế tài về phía cơ sở y tế đi theo đường xử lý hình sự và không được tổng hợp thành cơ sở dữ liệu công khai. Cách nói chính xác là không xác minh được bằng tài liệu công khai.
Cơ sở y tế biên soạn
Bài viết này do Bác sĩ Lee Chi-Hak, giám đốc y khoa Phòng khám Miso tại Daegu, Hàn Quốc biên soạn và rà soát. Các nghiên cứu được trích dẫn trong bài đều được ghi kèm cả thiết kế, quy mô lẫn giới hạn mà chính tác giả đã nêu, và những mục chúng tôi không tìm được tài liệu thì được ghi là không tìm được.
| Giám đốc y khoa | Bác sĩ Lee Chi-Hak |
|---|---|
| Địa chỉ | Tầng 4, tòa nhà Bombom, 125 Dongdeok-ro, Jung-gu, Daegu, Hàn Quốc (lối ra số 1 ga Kyungpook National University Hospital) |
| Điện thoại | +82-53-428-2700 |
| Giờ khám | Ngày thường 11:00~19:00 (nghỉ trưa 13:00~14:00) / Thứ Bảy 10:00~16:00 (khám liên tục, không nghỉ trưa) / Chủ Nhật · ngày lễ nghỉ |
| Chuyên mục lâm sàng | Xem toàn bộ bài viết |
| Thư viện tài liệu lâm sàng | Xem toàn bộ tài liệu về chất kích thích tạo collagen · thiết bị nâng cơ |
Tài liệu tham khảo
- Kết quả tra cứu thực tế (ngày 4 tháng 9 năm 2026, cổng tra cứu thiết bị y tế của MFDS) — Je-heo 26-667 (hàng nội địa, mã chuẩn 1 mã, chỉ dùng để xuất khẩu “không”) và Je-heo 26-657 (chỉ để xuất khẩu, mã chuẩn 0 mã, chỉ dùng để xuất khẩu “có”). Cả hai đều có tên chủng loại “vật liệu sinh học phục hồi mô” hạng 4, trạng thái sản phẩm “bình thường”. Việc có hay không có mã chuẩn là điều quan sát được ở hai trường hợp nên xin chỉ dùng như manh mối bổ trợ.
- Thống kê số lượng sản phẩm (tra cứu cùng ngày) — tên gọi “vật liệu sinh học phục hồi mô” tổng cộng 1,010 sản phẩm, chỉ dùng để xuất khẩu “có” 745 sản phẩm, “không” 265 sản phẩm. 745 + 265 = 1,010, tổng khớp. Đây là số lượng sản phẩm chứ không phải lượng lưu thông.
- Luật Thiết bị y tế, Điều 26 (Cấm các hành vi chung) khoản 1 — “Bất kỳ ai cũng không được sửa chữa · bán · cho thuê · cho tặng hoặc sử dụng thiết bị y tế chưa được cấp phép hoặc chứng nhận, hoặc chưa được khai báo …”. Ngoại lệ ở phần trừ chỉ là “mục đích trưng bày tại hội chợ · triển lãm · hội chợ triển lãm v.v.” và không có ngoại lệ nào liên quan xuất khẩu.
- Luật Thiết bị y tế, Điều 51 khoản 1 mục 2 — vi phạm Điều 26 khoản 1 thì phạt tù đến 5 năm hoặc phạt tiền đến 50 triệu won, theo khoản 2 của cùng điều có thể áp dụng đồng thời tù và phạt tiền. Con số “20 triệu won” lưu truyền trên mạng là điều luật cũ.
- Luật Thiết bị y tế, Điều 20 (Nội dung ghi trên bao bì v.v.) — tên và địa chỉ của đơn vị sản xuất · nhập khẩu, nơi sản xuất gốc với hàng nhập, số cấp phép (chứng nhận · khai báo) và tên gọi, số lô và tháng năm sản xuất (nếu có hạn dùng thì hạn dùng), khối lượng hoặc đơn vị đóng gói, dòng chữ “thiết bị y tế”, ghi chú dùng một lần, mã chuẩn thiết bị y tế, việc cung cấp tài liệu kèm theo trên internet và địa chỉ. Điều 23 quy định phải ghi chính xác bằng tiếng Hàn.
- Quy tắc thi hành Luật Thiết bị y tế, Điều 42 mục 2 — trường hợp là thiết bị y tế chỉ để xuất khẩu và đã ghi các nội dung theo chuẩn của nước nhập thì thuộc ngoại lệ của các nội dung ghi tại Điều 20. Điều 44 khoản 1 mục 1 điểm a — trường hợp ghi bằng ngôn ngữ của nước nhập trên thiết bị y tế chỉ để xuất khẩu thì thuộc ngoại lệ của nguyên tắc ghi bằng tiếng Hàn.
- Căn cứ của chế độ hàng xuất khẩu — bản thân Luật Thiết bị y tế không có điều khoản riêng về “thiết bị y tế chỉ để xuất khẩu”, mà việc miễn hồ sơ phải nộp và việc ghi “chỉ dùng để xuất khẩu” vào mục ghi chú được quy định trong “Quy định về cấp phép · khai báo · thẩm định thiết bị y tế” (thông báo của MFDS). Chúng tôi đã xác minh được số hiệu của thông báo hiện hành, nhưng số điều thì xác minh qua nguyên văn bản cũ và qua tài liệu thứ cấp nên cần xác minh lại trong bản hiện hành.
- Giải thích của MFDS — tập câu hỏi thường gặp (lĩnh vực thiết bị y tế). “Thiết bị y tế chỉ để xuất khẩu là sản phẩm được cấp phép chỉ nhằm mục đích xuất khẩu chứ không bán trong nước, nên nếu muốn lưu thông trong nước thì phải xin cấp phép sản xuất · nhập khẩu · chứng nhận riêng”. Việc trưng bày · quảng bá tại hội chợ trong nước cũng “thuộc lưu thông trong nước”.
- Mã chuẩn (UDI) — hướng dẫn của cơ quan quản lý mã chuẩn: mã chuẩn áp dụng cho thiết bị y tế lưu thông hoặc bán trong nước, còn với thiết bị y tế chỉ để xuất khẩu thì chỉ cần theo quy định ghi nhãn mà nước nhập yêu cầu.
- Bản án — Tòa án Quận Uijeongbu 2019 Godan 5958 (tuyên ngày 26 tháng 5 năm 2021). Vụ nhập khẩu không phép · nhập khẩu gian lận đã áp dụng Luật Thiết bị y tế cũ Điều 51 khoản 1 · Điều 26 khoản 1 v.v. và tuyên tù 1 năm 6 tháng · cho hưởng án treo 3 năm · truy thu 87,581,400 won. Vụ này thuộc dạng nhập khẩu không phép chứ không phải dạng “dùng hàng xuất khẩu trong nước”.
- Bản án tham khảo (luật khác) — Tòa án Quận Daejeon 2022 Guhap 106940 (tuyên ngày 12 tháng 6 năm 2024) và Tòa án Quận Daegu 2022 Guhap 24659. Đây là vụ việc thuộc Luật Dược · về thuốc, và đã có phán quyết rằng “nếu nhà sản xuất chuyển quyền sở hữu cho đơn vị xuất khẩu trong nước và nhận thanh toán thì dù sắp tới hàng sẽ được xuất khẩu, việc đó vẫn là bán”. Vì không phải vụ việc về thiết bị y tế nên không áp dụng nguyên vẹn được, chúng tôi chỉ tham khảo về hướng.
- Mua trực tiếp từ nước ngoài · nhập khẩu song song — tháng 3 năm 2025 MFDS công bố việc phối hợp với các tổ chức người tiêu dùng · hiệp hội để xây dựng hệ thống theo dõi thường xuyên đối với việc lưu thông bất hợp pháp thiết bị y tế mua trực tiếp từ nước ngoài. Dù là bệnh viện hay cá nhân, sản phẩm không đi qua đường nhập khẩu chính thức đều không dùng được trong nước, và giải thích của MFDS là dù nhằm mục đích tự dùng thì cũng vậy.
- Những điều chúng tôi không xác minh được — ①trường hợp phát hiện · xử lý được công bố với bệnh viện · phòng khám đã dùng sản phẩm xuất khẩu cho người bệnh trong nước (không có nghĩa là không có, mà vì thông báo xử phạt hành chính của MFDS nhắm vào đơn vị sản xuất · nhập khẩu · kinh doanh còn cơ sở y tế là “người sử dụng” nên không thuộc đối tượng đó, do vậy không được tổng hợp trong tài liệu công khai) ②việc dùng thiết bị y tế chưa cấp phép có kèm xử lý riêng liên quan chứng chỉ hành nghề bác sĩ hay không ③báo cáo cụ thể nào cho thấy hàng nội địa và hàng xuất khẩu của cùng một thương hiệu thực sự khác nhau về quy cách (chúng tôi chỉ xác minh được tới mức rằng về thể chế thì có thể khác) ④rà soát toàn bộ bảng thông báo xử phạt hành chính của MFDS.
- Nội dung pháp luật trong bài này là theo mốc ngày 4 tháng 9 năm 2026. Pháp luật và thông báo đều có sửa đổi, nên nếu quý vị có dịp trích dẫn thì xin xác minh lại điều luật hiện hành tại Trung tâm Thông tin Pháp luật Quốc gia.
Mọi bài viết trong chuyên mục này nhằm cung cấp thông tin chung và không thay thế cho chẩn đoán hay điều trị y khoa. Hiệu quả và tác dụng không mong muốn của thủ thuật có thể biểu hiện khác nhau tùy theo tình trạng da, độ tuổi và bệnh nền của từng người, và không bảo đảm kết quả giống nhau cho mọi người. Việc có thực hiện thủ thuật hay không nhất định phải được quyết định thông qua buổi khám trực tiếp với nhân viên y tế.
← Chuyên mục lâm sàng · Thư viện tài liệu lâm sàng · Trang chủ Phòng khám Miso
한국어 · English · 日本語 · 简体中文 · Español · Tiếng Việt · ภาษาไทย · Bahasa Indonesia