Phòng khám Miso · Tài liệu lâm sàng

XERF: nâng cơ sóng cao tần đơn cực dùng hai tần số

XERF là thiết bị sóng cao tần đơn cực do doanh nghiệp Hàn Quốc Lutronic chế tạo. Đặc điểm về mặt thiết kế là việc sử dụng hai tần số 6,78 MHz và 2 MHz. Tuy nhiên phần quan trọng nhất trong tài liệu này không phải là thông số kỹ thuật mà là bằng chứng đã có đến đâu. Chúng tôi chưa xác minh được kết quả thử nghiệm lâm sàng công bố của chính XERF, và thứ có thể trích dẫn là các nghiên cứu chung về nhóm sóng cao tần đơn cực. Chúng tôi tổng hợp ở mức không làm mờ đi sự phân định đó.

Tài liệu lâm sàng Đọc khoảng 9 phút Rà soát năm 2026 Phòng khám Miso, Daegu · Bác sĩ Lee Chi-Hak

Định nghĩa trong một dòng

XERF là thiết bị nâng cơ theo phương thức sóng cao tần (RF) đơn cực do Lutronic Corporation chế tạo. Thiết bị cho dòng điện cao tần đi qua bề mặt da để tạo nhiệt ở lớp trung bì và các lớp bên dưới, dùng nhiệt đó làm co sợi collagen và dẫn đến phản ứng tái tạo. Thiết bị kết hợp hai tần số 6,78 MHz và 2 MHz cùng bốn loại tay cầm có diện tích khác nhau để áp dụng khác nhau theo từng vùng. Nếu thủ thuật tiêm xử lý vật liệu của lớp trung bì, thì thiết bị này thiên về xử lý cấu trúc của lớp sâu hơn thế.

Nhìn tổng quan

Tóm tắt XERF
Phân loại thiết bịThiết bị nâng cơ dựa trên sóng cao tần (RF) — không xâm lấn
Phương thứcRF đơn cực
Tần số6,78 MHz · 2 MHz
Tay cầm4 loại (XERF i05 · i10, EFFECTOR E40 · E60)
Nhà sản xuấtLutronic Corporation, thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi
Tình trạng cấp phépThiết bị y tế được Bộ An toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hàn Quốc (MFDS) cấp phép — số giấy phép công khai thì chưa xác minh được
Phân loại sản phẩm được cấp phép범용전기수술기 (dao mổ điện đa dụng)
Gây têĐại thể là không cần — tùy tình trạng có thể kết hợp gây tê bề mặt
Thời gian hồi phụcPhần lớn trở lại sinh hoạt thường ngày ngay trong ngày
Mục tiêu chínhĐộ đàn hồi của da · sự chùng nhão của đường viền hàm và má · kết cấu da
Điều không giải quyết đượcThể tích đã hõm, chảy xệ nặng, tổn thương sắc tố, việc giảm chính lớp mỡ
Thử nghiệm lâm sàng công bốKết quả công bố của chính XERF thì chưa xác minh được

Nâng cơ sóng cao tần thực sự làm gì

Sóng cao tần không phải là ánh sáng mà là dòng điện. Đây không phải phương thức bị một sắc tố nhất định hấp thu rồi đốt cháy mục tiêu như laser, mà nhiệt được tạo ra từ ma sát sinh ra khi các phân tử mang điện tích trong mô đổi hướng và dao động. Vì mục tiêu không phải là sắc tố nên về nguyên lý, ràng buộc theo màu da thuộc loại ít hơn so với laser.

Nhiệt đó làm gì mới là cốt lõi. Sợi collagen ở một khoảng nhiệt độ nhất định sẽ bị tháo một phần cấu trúc xoắn ba và co lại tức thì. Cảm giác siết chặt mà một số quý khách cảm nhận được ngay sau thủ thuật chính là điều này. Đồng thời, kích thích nhiệt bật phản ứng lành thương, dẫn đến việc nguyên bào sợi tạo ra collagen mới qua vài tuần sau đó. Vì vậy thời điểm đánh giá thủ thuật sóng cao tần không phải là trong ngày mà là 2~3 tháng sau.

Khác biệt giữa đơn cực và lưỡng cực cũng xuất phát từ đây. Với lưỡng cực, dòng điện chảy trong khoảng hẹp giữa hai điện cực nên nhiệt dồn vào lớp tương đối nông. Với đơn cực, dòng điện đi ra từ tay cầm rồi đi qua cơ thể và trở về một điện cực hồi lưu riêng biệt, nên phạm vi dòng điện đi qua rộng hơn và sâu hơn. Đó là lý do các thiết bị lấy nâng cơ làm mục đích chọn phương thức đơn cực.

Ở đây có một điều — Bản thân nguyên lý dùng nhiệt để xử lý collagen đã được nghiên cứu từ lâu. Tuy nhiên câu “nguyên lý này đã được thiết lập” và câu “thiết bị này tạo ra kết quả đó” là hai câu hoàn toàn khác nhau. Chúng tôi sẽ xử lý lại sự phân định này ở mục “Bằng chứng đã có đến đâu” bên dưới.

Tiêm và thiết bị xử lý những lớp khác nhau

Câu hỏi thường gặp trong buổi tư vấn là “tôi nên tiêm booster hay nên nâng cơ”. Nó được đặt ra như bài toán chọn một trong hai, nhưng thực tế thì lớp mà chúng xử lý là khác nhau. Các thủ thuật tiêm như booster thiên về đưa vật liệu vào trong lớp trung bì hoặc thay đổi chuyển hóa của lớp trung bì nên mục tiêu là mật độ và kết cấu của da, còn nâng cơ sóng cao tần thì đưa nhiệt vào cấu trúc của lớp sâu hơn và lấy đường nét bị chùng nhão làm mục tiêu.

Tiêm xử lý vật liệu của lớp trung bì còn thiết bị xử lý cấu trúc của lớp sâu hơn — vì vậy câu hỏi quan trọng hơn trên thực tế không phải là bên nào tốt hơn, mà là có thể thiết kế cả hai cùng nhau hay không. Các lựa chọn ở phía tiêm được tổng hợp trong So sánh 7 chất kích thích tạo collagen, còn các thiết bị sóng cao tần khác mà Phòng khám Miso trang bị thì được tổng hợp lần lượt trong tài liệu DensityOligio Kiss.

Phương thức của XERF — hai tần số và bốn tay cầm

XERF không dùng một tần số duy nhất. Thiết bị sử dụng hai tần số 6,78 MHz2 MHz. Ở sóng cao tần, tần số có liên quan đến việc dòng điện phân bố ra sao bên trong mô. Nói chung, tần số càng thấp thì có xu hướng lan sâu, càng cao thì có xu hướng tập trung ở lớp nông. Nhà sản xuất giải thích rằng bằng sự kết hợp của hai tần số này, thiết bị xử lý ba mức độ sâu: lớp nông · lớp trung gian · lớp sâu.

Về nguồn của lời giải thích này — “Ba mức độ sâu” ở trên là lời giải thích do nhà sản xuất công bố, và trong phạm vi chúng tôi đã kiểm tra thì tài liệu kiểm chứng độc lập điều này chưa xác minh được. Phân bố nhiệt thực tế còn phụ thuộc vào công suất, thời gian tiếp xúc, làm mát và trở kháng mô của từng người ngoài tần số, nên việc đọc thẳng con số trên bảng thông số thành độ sâu là không chính xác.

Tay cầm có bốn loại, và khác biệt nằm ở diện tích tiếp xúc và số phát tối đa. Trên thực tế, tiêu chí lựa chọn là “đầu tip này có tiếp xúc đều về mặt vật lý với vùng này hay không”. Nếu áp đầu tip rộng vào chỗ hẹp thì tiếp xúc bị hở, còn nếu chỉ lướt đầu tip nhỏ trên một mặt rộng thì việc chiếu sẽ không đồng đều.

4 loại tay cầm của XERF
Tay cầmDiện tích tiếp xúcSố phát tối đaVùng chủ yếu sử dụng
XERF i055 × 10 mm400 phátVùng hẹp và mỏng
XERF i1010 × 10 mm300 phátVùng nhỏ và có độ cong
EFFECTOR E4020 × 20 mm600 phátToàn bộ các vùng
EFFECTOR E6020 × 30 mm600 phátVùng rộng và dày

Các con số trong bảng là thông số do nhà sản xuất công bố. Việc thực tế dùng bao nhiêu phát thay đổi tùy theo diện tích vùng và tình trạng da, và số phát càng nhiều không có nghĩa là kết quả càng tốt.

Phù hợp với quý khách nào, và trường hợp nào thì khó

Trường hợp nâng cơ sóng cao tần là lựa chọn hợp lý

  • Giai đoạn đầu đến trung bình của việc bắt đầu chùng nhão — cảm giác đường viền hàm mờ đi và má trễ xuống
  • Trường hợp quý khách không muốn phẫu thuật và hầu như không thể dành thời gian hồi phục
  • Trường hợp quý khách muốn chỉnh sửa cả độ đàn hồi lẫn kết cấu da
  • Trường hợp quý khách thấy nặng nề với các thủ thuật có kim đâm vào
  • Trường hợp quý khách đang chăm sóc lớp trung bì bằng thủ thuật tiêm nhưng đường nét vẫn nguyên như cũ

Trường hợp chỉ riêng XERF thì khó

  • Trường hợp má hoặc thái dương bị hõm — sóng cao tần không tạo ra thể tích
  • Mức độ da chảy xệ nhiều đến mức gấp nếp — đó là lĩnh vực của phương pháp phẫu thuật
  • Trường hợp lớp trung bì mỏng và bên trong rỗng — nhóm tiêm được ưu tiên trước
  • Trường hợp trăn trở chính là sắc tố hoặc tổn thương bề mặt như nám · đỏ da · lỗ chân lông
  • Trường hợp có thiết bị điện trong cơ thể như máy tạo nhịp tim · máy khử rung — về nguyên tắc là chống chỉ định
  • Trường hợp đang mang thai, hoặc có nhiễm trùng · vết thương ở vùng làm thủ thuật
  • Trường hợp ở vùng làm thủ thuật có vật cấy kim loại hoặc lượng lớn chất làm đầy

Bằng chứng đã có đến đâu

Đây là mục quan trọng nhất trong tài liệu này. Chúng tôi xin chia ra ghi theo thứ tự.

1. Tài liệu lâm sàng về chính XERF

Trong phạm vi chúng tôi đã kiểm tra, trong các kết quả thử nghiệm lâm sàng được thực hiện bằng XERF, phần đã công bố thì chưa xác minh được. Điều này không có nghĩa là “không có hiệu quả” mà có nghĩa là “không thể xác nhận bằng tài liệu đã công bố”. Khá nhiều thiết bị y tế thẩm mỹ lưu hành trong nước ở vào tình trạng tương tự, nhưng việc điều đó phổ biến không phải là căn cứ để được phép lược bỏ sự thật này.

2. Quan hệ sự thật về việc cấp phép

XERF là thiết bị y tế đã được MFDS cấp phép. Tuy nhiên cần chỉ ra chính xác hai điều.

Thứ nhất, trong phạm vi chúng tôi đã kiểm tra thì số giấy phép công khai chưa xác minh được. Số mà nhà sản xuất công bố là số thẩm định trước quảng cáo — “범용전기수술기 (dao mổ điện đa dụng) 조합-2024-16-054 (thời hạn hiệu lực 2027-04-22)” — . Số thẩm định trước quảng cáo không phải là số giấy phép sản phẩm. Thẩm định trước quảng cáo là kết quả xem xét trước xem cách diễn đạt của tài liệu quảng cáo có phù hợp tiêu chuẩn hay không, còn cấp phép là về tính an toàn · hiệu năng của chính thiết bị. Đối tượng thẩm định là khác nhau.

Thứ hai, như thấy trong số nêu trên, phân loại sản phẩm là “범용전기수술기 (dao mổ điện đa dụng)”. Tên gọi là thiết bị nâng cơ nhưng bản thân sản phẩm được cấp phép lại thuộc phân loại dao mổ điện đa dụng. Đây là phạm trù rộng bao gồm chung các thiết bị truyền năng lượng cao tần vào mô, và không có nghĩa là “hiệu quả nâng cơ khuôn mặt” đã được công nhận riêng.

3. Bằng chứng chung của nhóm sóng cao tần đơn cực

Tuy không có tài liệu riêng về XERF, nhưng về nhóm gọi là sóng cao tần đơn cực thì có nghiên cứu. Tuy nhiên đây không phải là nghiên cứu sử dụng XERF, và không được chép kết quả dưới đây sang làm bằng chứng của XERF.

Bài báo số 71, tập 11, số 3 năm 2024 trên Cosmetics là nghiên cứu đánh giá 20 phụ nữ khỏe mạnh (trung bình 47,95±6,02 tuổi, týp Fitzpatrick III~IV, chảy xệ mặt mức nhẹ đến trung bình) đã làm thủ thuật sóng cao tần đơn cực, ở các thời điểm 4 tuần · 12 tuần · 24 tuần sau 1 lần thủ thuật.

  • Tại thời điểm 12 tuần có cải thiện có ý nghĩa thống kê ở đường viền hàm và rãnh mũi má (p<0,05)
  • Độ đàn hồi của má tăng từ tuần thứ 4 (p<0,01) và duy trì đến tuần thứ 24
  • Điểm đau trung bình trong thủ thuật là 0,4/10
  • Không có báo cáo về bỏng hay sẹo

Nếu chỉ nhìn con số thì đó là kết quả tốt. Tuy nhiên cần đọc kèm những giới hạn mà chính các tác giả của nghiên cứu này nêu rõ.

  • Không có nhóm chứng ngẫu nhiên — đây là nghiên cứu thuần tập tiến cứu có làm mù người đánh giá
  • Người tham gia là 20 người, hơn nữa chỉ có nữ giới nên quy mô quá nhỏ để khái quát hóa
  • Không có so sánh với các kỹ thuật chống lão hóa khác — không rút ra được bằng chứng rằng phương thức này tốt hơn phương thức khác

Tóm lại là như sau. Với cách tiếp cận gọi là sóng cao tần đơn cực thì có bằng chứng tuy quy mô nhỏ nhưng nhất quán về hướng, còn với thiết bị riêng lẻ là XERF thì bằng chứng công bố chưa xác minh được. Lý do chúng tôi dùng XERF không phải là “vì đã được chứng minh về mặt lâm sàng”, mà vì nguyên lý của nhóm phương thức đã được thiết lập và cấu hình tay cầm cho phép phân chia sử dụng theo từng vùng là hữu ích trong khám chữa bệnh. Chúng tôi không có căn cứ để nói nhiều hơn thế.

Về việc so sánh với các thiết bị khácKhông tồn tại nghiên cứu so sánh trực tiếp XERF với Density hay Oligio Kiss, hoặc với các thiết bị sóng cao tần · siêu âm khác được biết đến rộng rãi. Vì vậy trong tài liệu này chúng tôi không nói chuyện thiết bị nào tốt hơn. Nếu quý khách thấy một lời giải thích khẳng định chắc chắn về hơn kém giữa các thiết bị thì nên hỏi xem căn cứ của điều đó là gì.

Thủ thuật được tiến hành ra sao

Điều được phân định trước tiên trong buổi tư vấn là thay đổi đang thấy hiện nay là vấn đề của lớp nào. Nếu chùng nhão là vấn đề chính thì sóng cao tần được ưu tiên, còn nếu mật độ hay kết cấu của lớp trung bì là vấn đề chính thì nhóm tiêm được ưu tiên.

Vì sóng cao tần là thủ thuật cho dòng điện đi qua cơ thể nên cần kiểm tra trước thủ thuật. Quý khách nhất định phải cho chúng tôi biết về thiết bị điện trong cơ thể (máy tạo nhịp tim · máy khử rung v.v.), vật cấy kim loại, tiền sử đặt chất làm đầy hoặc chỉ ở vùng làm thủ thuật, tình trạng mang thai, bệnh lý da. Đây không phải là thủ tục hình thức.

Tiến trình như sau. Sau khi rửa mặt và loại bỏ mỹ phẩm cùng dầu thừa, chúng tôi gắn điện cực hồi lưu (miếng dán) để dòng điện đi qua cơ thể rồi trở về. Ở vùng làm thủ thuật, chúng tôi bôi gel giúp dẫn dòng điện và làm mát rồi vẽ đường dẫn, sau đó chia ra chiếu: vùng hẹp bằng đầu tip nhỏ, vùng rộng bằng đầu tip lớn. Toàn khuôn mặt, bao gồm cả chuẩn bị, đại thể mất từ 40 phút đến 1 tiếng.

Công suất không được nâng lên mức tối đa ngay từ đầu, mà bắt đầu từ mức thấp rồi điều chỉnh trong khi kiểm tra phản ứng nhiệt độ mà quý khách cảm nhận. Nếu trong lúc làm thủ thuật có khoảnh khắc quý khách thấy “nóng” thì xin đừng chịu đựng mà hãy nói ngay. Tín hiệu đó trở thành tiêu chí để điều chỉnh công suất.

Diễn tiến — từ khi nào thì thấy được

  1. Ngay sau thủ thuật
    Đỏ da và cảm giác âm ấmVùng đã đưa nhiệt vào sẽ đỏ lên và ấm lên. Cảm giác siết chặt mà một số quý khách cảm nhận là do collagen co lại tức thì, và bản thân điều đó không phải là kết quả cuối cùng.
  2. 1~3 ngày
    Phần lớn lắng xuốngBan đỏ thường biến mất trong vài giờ đến một ngày, sưng hay vết hằn do đè ép cũng mất đi trong vài ngày.
  3. 2~4 tuần
    Khoảng thời gian thay đổi còn mơ hồĐây là thời kỳ cảm giác siết chặt tức thì nhạt đi mà collagen mới thì vẫn chưa đủ. Ở đây mà đánh giá “không có hiệu quả” thì còn quá sớm.
  4. 2~3 tháng
    Thời điểm đánh giáĐây là khoảng thời gian phản ứng tái tạo tích lũy lại. Chúng tôi so sánh với ảnh trước thủ thuật để xác nhận thay đổi thực tế và tư vấn về thiết kế bổ sung.
  5. Sau đó
    Theo dõi diễn tiếnVì không có tài liệu để khẳng định thời gian duy trì bằng con số, nên việc có làm thủ thuật tiếp hay không và vào thời điểm nào được đánh giá dựa trên diễn tiến thực tế. Vì lão hóa vẫn tiến triển nên không thể cố định thời điểm bằng thủ thuật.

Đau · thời gian hồi phục · tác dụng không mong muốn

Đau — Cảm giác đang ấm rồi trong khoảnh khắc thấy nóng lặp đi lặp lại. Trong nghiên cứu về nhóm phương thức đã trích dẫn ở trên, điểm đau trong thủ thuật được báo cáo trung bình là 0,4/10, nhưng đó là con số ra đời trong điều kiện của nghiên cứu đó và cảm nhận thực tế thay đổi rất nhiều tùy theo thiết lập công suất và khác biệt cá nhân. Trán · đường viền hàm · thái dương ở gần xương thuộc loại nhạy cảm hơn.

Thời gian hồi phục — Phần lớn có thể trở lại sinh hoạt thường ngày ngay trong ngày. Vì đỏ da ngay sau thủ thuật có thể không che hết được bằng trang điểm, nên nếu quý khách có lịch quan trọng trong ngày thì nên chừa thời gian dư ra.

Trong vài ngày sau thủ thuật

  • Rửa mặt nhẹ nhàng bằng nước ấm, không chà xát
  • Tránh xông hơi · phòng tắm hơi · vận động mạnh · uống rượu bia trong ngày làm thủ thuật
  • Dưỡng ẩm đầy đủ và chống nắng kỹ lưỡng
  • Hoãn lại vài ngày các sản phẩm tẩy tế bào chết hay mỹ phẩm gây kích ứng
  • Nếu có cảm giác bất thường hoặc đau kéo dài thì đến khám không chậm trễ
Thông tin về tác dụng không mong muốn — Sau thủ thuật sóng cao tần, ban đỏ, sưng, cảm giác nóng, vết hằn do đè ép tạm thời là thường gặp và đại thể lắng xuống trong vài giờ đến vài ngày. Hiếm gặp hơn, có thể có báo cáo về bỏng · bọng nước · tăng sắc tố · đau hoặc tê kéo dài · rối loạn cảm giác · chỗ lõm do teo mỡ khu trú. Nếu những triệu chứng như vậy xuất hiện hoặc kéo dài · nặng lên, quý khách nhất định phải đến cơ sở y tế đã thực hiện thủ thuật để được thăm khám. Trường hợp quý khách mang thiết bị điện trong cơ thể (máy tạo nhịp tim · máy khử rung v.v.) thì thủ thuật sóng cao tần về nguyên tắc là chống chỉ định; nếu đang mang thai, hoặc ở vùng làm thủ thuật có nhiễm trùng · vết thương · vật cấy kim loại, hoặc có bệnh lý toàn thân không được kiểm soát, xin quý khách nhất định phải báo trước khi làm thủ thuật. Loại và mức độ của tác dụng không mong muốn thay đổi tùy theo cơ địa, tình trạng da và thiết lập công suất của từng người.

Tài liệu tham khảo

  1. Suh D·H et al. Efficacy and Safety of Monopolar Radiofrequency for Tightening the Skin of Aged Faces. Cosmetics 2024;11(3):71. Đánh giá 20 phụ nữ khỏe mạnh (trung bình 47,95±6,02 tuổi, týp Fitzpatrick III~IV) tại các thời điểm 4 · 12 · 24 tuần sau 1 lần thủ thuật. Đây là nghiên cứu thuần tập tiến cứu có làm mù người đánh giá và không có nhóm chứng ngẫu nhiên; chính các tác giả đã nêu rõ những giới hạn là chỉ bao gồm một số ít phụ nữ và không có so sánh với các kỹ thuật chống lão hóa khác. Đây không phải là nghiên cứu sử dụng XERF, mà là tài liệu về nhóm sóng cao tần đơn cực nói chung.
  2. Thông tin sản phẩm XERF — tài liệu công bố của Lutronic Corporation. Đây là nguồn của cấu hình tần số, thông số tay cầm và lời giải thích của nhà sản xuất về độ sâu.
  3. Ghi nhận thẩm định trước quảng cáo thiết bị y tế — “범용전기수술기 (dao mổ điện đa dụng) 조합-2024-16-054” (thời hạn hiệu lực 2027-04-22). Đây là kết quả thẩm định trước đối với cách diễn đạt quảng cáo và không phải là số giấy phép sản phẩm.
  4. Y văn chung về việc làm nóng mô bằng sóng cao tần và sự co nhiệt của collagen. Khác biệt về đường đi của dòng điện giữa đơn cực và lưỡng cực, thay đổi cấu trúc collagen do nhiệt và phản ứng hình thành collagen tân sinh.
  5. Hướng dẫn thực hành lâm sàng của Phòng khám Miso — quy trình kiểm tra chống chỉ định trước thủ thuật, lựa chọn tay cầm theo vùng, tiêu chí điều chỉnh công suất, quy trình giải thích trước và lấy đồng thuận.

Câu hỏi thường gặp

XERF có phải là thiết bị đã được xác nhận hiệu quả bằng thử nghiệm lâm sàng không?
Trong phạm vi chúng tôi đã kiểm tra thì chưa xác minh được kết quả thử nghiệm lâm sàng công bố của chính XERF. Thứ có thể trích dẫn là các nghiên cứu chung về nhóm sóng cao tần đơn cực, và ngay cả nghiên cứu đó cũng là nghiên cứu không có nhóm chứng với quy mô 20 người tham gia. Vì vậy chúng tôi không thể nói đây là “thiết bị đã được chứng minh về mặt lâm sàng”. Nguyên lý của nhóm phương thức đã được thiết lập, nhưng bằng chứng của từng thiết bị riêng lẻ và bằng chứng của nhóm phương thức là hai điều khác nhau, và chúng tôi cho rằng không trộn lẫn hai điều đó khi nói mới là đúng.
Đây có phải là thiết bị đã được MFDS cấp phép không? Tôi muốn biết số giấy phép.
Đây là thiết bị y tế đã được MFDS cấp phép. Tuy nhiên trong phạm vi chúng tôi đã kiểm tra thì số giấy phép công khai chưa xác minh được. Thứ mà nhà sản xuất công bố là số thẩm định trước quảng cáo “범용전기수술기 (dao mổ điện đa dụng) 조합-2024-16-054 (thời hạn hiệu lực 2027-04-22)”, nhưng số thẩm định trước quảng cáo không phải là số giấy phép sản phẩm. Thẩm định trước quảng cáo xem xét cách diễn đạt quảng cáo, còn cấp phép thì xem xét chính thiết bị. Việc phân loại sản phẩm được cấp phép là “범용전기수술기 (dao mổ điện đa dụng)” cũng là điều đáng để quý khách biết.
Dùng chung 6,78MHz và 2MHz thì có tác động được đến chỗ sâu hơn không?
Nhà sản xuất giải thích rằng bằng sự kết hợp của hai tần số, thiết bị xử lý ba mức: lớp nông · lớp trung gian · lớp sâu. Tuy nhiên tài liệu kiểm chứng độc lập điều này thì chưa xác minh được. Việc nhiệt hình thành đến đâu bên trong mô không chỉ do tần số mà còn phụ thuộc cùng lúc vào công suất, thời gian tiếp xúc, làm mát và trở kháng mô của từng người, nên việc đọc thẳng tần số trên bảng thông số thành “tác động đến mấy milimét” là không chính xác.
Cần làm bao nhiêu lần, và duy trì được bao lâu?
Vì không có phác đồ chuẩn được thiết lập bằng nghiên cứu nên chúng tôi không khẳng định số lần và thời gian duy trì bằng con số. Nghiên cứu về nhóm phương thức đã trích dẫn ở trên cũng chỉ quan sát đến tuần thứ 24 sau 1 lần thủ thuật, và quá mức đó thì không có tài liệu để trích dẫn. Phòng khám Miso xác nhận diễn tiến sau 2~3 tháng rồi cùng quyết định có làm thêm hay không, và không khuyến nghị gộp nhiều lần ngay từ đầu.
Có đau nhiều không? Có cần gây tê không?
Thông thường là mức cảm giác ấm lặp đi lặp lại rồi trong khoảnh khắc thấy nóng. Đại thể chúng tôi tiến hành không gây tê, và với quý khách nhạy cảm với đau thì kết hợp gây tê bề mặt. Tuy nhiên việc nâng công suất trong trạng thái đã xóa hoàn toàn cảm giác không phải là cách làm an toàn. Bởi vì cảm giác nóng là tín hiệu quan trọng để điều chỉnh công suất. Nếu quý khách thấy khó chịu thì xin đừng chịu đựng mà hãy nói ngay.
Có thể làm ở vùng đã đặt chất làm đầy hoặc chỉ không?
Quý khách nhất định phải báo trước. Việc nhiệt ảnh hưởng thế nào đến vật liệu đó thì khác nhau tùy loại, thời điểm đặt và lượng, và khó có thể xem là đã có tài liệu tổng hợp đầy đủ. Chúng tôi kiểm tra tiền sử đặt vật liệu rồi phân chia vùng hoặc điều chỉnh công suất, và nếu khó đánh giá thì hoãn thời điểm lại. Vật cấy kim loại cũng vậy.
Giữa tiêm booster và sóng cao tần thì tôi nên làm cái nào trước?
Lớp mà hai bên xử lý là khác nhau. Nhóm tiêm xử lý vật liệu và chuyển hóa của lớp trung bì, còn sóng cao tần xử lý cấu trúc của lớp sâu hơn thế. Nếu điều làm quý khách khó chịu là sự chùng nhão của đường nét thì sóng cao tần được ưu tiên, còn nếu là việc da mỏng và trông rỗng bên trong thì nhóm tiêm được ưu tiên. Nếu cả hai đều đúng, thay vì dồn vào cùng một ngày, chúng tôi định trình tự và khoảng cách rồi chia ra tiến hành. Về các lựa chọn ở phía tiêm, xin quý khách tham khảo So sánh 7 chất kích thích tạo collagen.
Chi phí của XERF là bao nhiêu?
Thay đổi tùy theo vùng và phạm vi làm thủ thuật, tay cầm sử dụng và số phát, cùng với việc có kết hợp thủ thuật khác hay không. Theo các tiêu chuẩn liên quan đến quảng cáo y tế, chúng tôi không hướng dẫn chi phí thủ thuật trong phần nội dung, mà sẽ hướng dẫn chính xác khi tư vấn.

Cơ sở y tế biên soạn

Tài liệu này do Bác sĩ Lee Chi-Hak, giám đốc y khoa Phòng khám Miso tại Daegu, Hàn Quốc biên soạn và rà soát. Ngoài XERF, Phòng khám Miso còn trang bị cả DensityOligio Kiss làm thiết bị sóng cao tần, đồng thời vận hành riêng 7 loại chất kích thích tạo collagen · skin booster xử lý lớp trung bì. Lý do trang bị nhiều thiết bị không phải vì thiết bị nào ưu việt hơn, mà vì ở nơi chỉ có một thiết bị thì rốt cuộc sẽ dùng chính thiết bị đó cho mọi khuôn mặt. Các tài liệu khác được tổng hợp trong Thư viện tài liệu lâm sàng Phòng khám Miso.

Phòng khám Miso
Giám đốc y khoaBác sĩ Lee Chi-Hak
Địa chỉTầng 4, tòa nhà Bombom, 125 Dongdeok-ro, Jung-gu, Daegu, Hàn Quốc (lối ra số 1 ga Kyungpook National University Hospital)
Điện thoại+82-53-428-2700
Giờ khámNgày thường 11:00~19:00 (nghỉ trưa 13:00~14:00) / Thứ Bảy 10:00~16:00 (khám liên tục, không nghỉ trưa) / Chủ Nhật · ngày lễ nghỉ
Thư viện tài liệuThư viện tài liệu lâm sàng Phòng khám Miso

Tài liệu này nhằm cung cấp thông tin chung về thủ thuật và không thay thế cho chẩn đoán hay điều trị y khoa. Hiệu quả và tác dụng không mong muốn của thủ thuật có thể biểu hiện khác nhau tùy theo tình trạng da, độ tuổi và bệnh nền của từng người, và không bảo đảm kết quả giống nhau cho mọi người. Việc có thực hiện thủ thuật hay không nhất định phải được quyết định thông qua buổi khám trực tiếp với nhân viên y tế.

← Trang chủ Phòng khám Miso

한국어 · English · 日本語 · 简体中文 · Español · Tiếng Việt · ภาษาไทย · Bahasa Indonesia