Khi tìm hiểu XERF ở Daegu — chúng tôi bù vào phần tư liệu mình đã bỏ sót
Đầu tháng 9 năm 2026, khi viết bài bằng chứng của XERF đã đến đâu, chúng tôi đã ghi rằng “nghiên cứu tiến hành trên người chỉ có một bài với 20 người”. Câu đó ngay tại thời điểm chúng tôi viết đã là sai rồi. Tìm lại thì có thêm hai nghiên cứu trên người, và cả hai đều đã được đăng trước khi chúng tôi viết bài đó. Là chúng tôi đã bỏ sót. Cũng trong lần tra cứu ấy, chúng tôi xác nhận thêm rằng một bài tiền lâm sàng mà chúng tôi từng dẫn có kèm thông báo đính chính xung đột lợi ích ghi “bảy tác giả là nhân viên của nhà sản xuất”. Chúng tôi ghi cả cái đã bỏ sót lẫn cái phải dè chừng, và trên nền đó công khai những gì chúng tôi xác nhận trong buổi tư vấn.
Kết luận trước
“Chỗ nào ở Daegu làm XERF giỏi” là câu hỏi mà tư liệu công khai không phán định được. Không có chỉ số công khai nào so sánh tay nghề của người làm thủ thuật, đánh giá của khách thì theo luật quảng cáo y tế không dùng làm căn cứ về hiệu quả được, và số ca đã làm không phải là cùng một thứ với độ thành thạo. Vì vậy chúng tôi viết câu trả lời theo cách khác — chúng tôi trình bày bằng chứng của thiết bị này hiện đã đến đâu, và công khai những gì chúng tôi xác nhận trong buổi tư vấn. Có ba điểm. Thứ nhất, tư liệu trên người không phải một bài mà là ba bài — một nghiên cứu đa trung tâm 39 người (2 buổi) và một nghiên cứu hồi cứu tại một cơ sở 16 người (1 buổi). Thứ hai, cả ba bài đều không có nhóm chứng, và ở hai bài thì chính bác sĩ làm thủ thuật là người chấm kết quả. Chính các tác giả đã ghi rằng đây là “bước đầu” và “không thể kết luận là tốt hơn thiết bị đơn tần số đang có”. Thứ ba, bài mô học trên lợn năm 2024 mà chúng tôi từng dẫn ban đầu được đăng với ghi chú “không có xung đột lợi ích”, rồi tháng 3 năm 2026 được đính chính thành “bảy tác giả là nhân viên của nhà sản xuất”. Việc bằng chứng tăng lên là sự thật, và việc phải nhìn cả xem ai đã tạo ra bằng chứng đó cũng là sự thật.
Ba bài tư liệu trên người hiện đang có
Bức tranh mà chúng tôi ghi ở bài số 40 là “một bài trên người (20 người) cộng năm bài tiền lâm sàng do nhà sản xuất tài trợ”. Thực tế thì lúc đó đã là thế này rồi.
| Tư liệu | Thiết kế và cỡ mẫu | Cái gì được đo | Hạn chế |
|---|---|---|---|
| Hwang 2025 Hàn Quốc, đã dẫn ở bài số 40 | Một cơ sở · 20 người · làm 1 buổi · 12 tuần | Người đánh giá làm mù nhận đúng ảnh sau thủ thuật 80%, GAIS 2.75/4, mức hài lòng 7.84/10, đau VAS 4~5 (không gây tê) | Không có nhóm chứng · một cơ sở · n=20 · tạp chí đăng bài không được lập chỉ mục ở PubMed/SCIE |
| Weiss 2026 Mỹ, mới | Tiến cứu đa trung tâm 4 cơ sở · 39 người (nữ 37 · nam 2) · làm 2 buổi (cách nhau 4 tuần) · 90 ngày | GAIS do bác sĩ đánh giá từ 3 điểm trở lên: 84.6% ở ngày 30 · 92.3% ở ngày 90. Người bệnh hài lòng 79.5% → 84.6%. Đau trung bình 4.2/10 (không gây tê) | Không có nhóm chứng · không làm mù và chính nghiên cứu viên chính đã làm thủ thuật là người chấm GAIS · chỉ đến 90 ngày · 2 nam giới · nhà sản xuất cung cấp thiết bị · hỗ trợ nghiên cứu · lập trình thống kê |
| Erlich 2026 Israel, mới | Hồi cứu · tại phòng khám của chính tác giả thứ nhất · 16 phụ nữ · làm 1 buổi · 3 tháng | Đo 3D thấy có tái phân bố thể tích, chân mày · mi mắt nâng lên 1.1~1.4 mm, FACE-Q tăng, đau 4.31 ± 1.71 | Hồi cứu · không có nhóm chứng · không làm mù · n=16 · chính các tác giả ghi rõ tái phân bố thể tích là chỉ số thay thế chứ không phải chỉ số chuẩn đã được thẩm định |
Chỉ tách con số ra mà đọc thì sẽ hiểu sai. Ví dụ “cải thiện 92.3% ở ngày 90” là sự thật, nhưng người chấm điểm đó chính là bác sĩ đã làm thủ thuật ấy và không làm mù. Chính các tác giả cũng viết thẳng rằng “không thể loại trừ sai lệch của người đánh giá”, và diễn đạt kết luận là “không phải bằng chứng xác định mà là giai đoạn đặt giả thuyết”. Giá trị p gắn kèm cũng không phải là giá trị so với giả dược hay nhóm chứng, mà là kiểm định hậu định đối chiếu với tỷ lệ chuẩn “70%”, và các tác giả đã ghi rõ đó là “thăm dò”.
Cả hai nghiên cứu mới đều không rút ra kết luận rằng XERF tốt hơn thiết bị sóng cao tần đơn tần số đang có. Nghiên cứu ở Israel viết trong thân bài rằng “vì không có nhóm chứng và không so với thiết bị đơn tần số nên không thể rút ra bất kỳ kết luận nào về tính ưu việt của công nghệ hai tần số”.
★ Trường hợp ghi xung đột lợi ích được đính chính sau hai năm
Một trong những bài mà chúng tôi dẫn làm tư liệu tiền lâm sàng ở bài số 40 là nghiên cứu mô học trên lợn đăng năm 2024. Bài đó ban đầu ghi thế này — “Các tác giả không có xung đột lợi ích nào phải khai báo.”
Tháng 3 năm 2026, cùng tạp chí đó đăng một thông báo đính chính. Câu đã được đính chính là thế này — “J.H., H.G.R., C.P., J.P., K.K., K.M.M.L., S.I.C. là nhân viên của Cynosure Lutronic, nhà sản xuất thiết bị sóng cao tần monopolar được đánh giá trong nghiên cứu này.” Sự thật rằng bảy tác giả thuộc nhà sản xuất là điều hai năm sau mới được làm rõ.
Kết luận của chúng tôi thì không đổi — vì bài số 40 đã xếp bài báo này vào loại “tác giả thuộc nhà sản xuất hoặc do nhà sản xuất tài trợ” từ trước rồi. Có điều việc này cho thấy bản thân dòng ghi xung đột lợi ích đã in trên tạp chí cũng có thể bị lật lại về sau. Vì vậy khi dẫn tư liệu, chúng tôi ghi kèm cả nơi công tác của tác giả và nguồn kinh phí nghiên cứu chứ không chỉ ghi kết luận. Đó là lý do chúng tôi đưa việc có hay không có hỗ trợ của nhà sản xuất vào cột “hạn chế” ở bảng trên.
Vì sao “XERF bao nhiêu shot” lại là thủ thuật khác nhau ở mỗi phòng khám
Con số hay được trao đổi nhất trong buổi tư vấn là số shot. Nhưng cùng một con số không có nghĩa là cùng một thủ thuật. Hai nghiên cứu ra lần này cho thấy đúng điều đó — cả hai đều dùng XERF và cả hai đều báo cáo kết quả tốt, nhưng quy trình thì khác nhau hoàn toàn.
| Hạng mục | Weiss 2026 (39 người) | Erlich 2026 (16 người) |
|---|---|---|
| Số buổi | 2 buổi, cách nhau 4 tuần | 1 buổi |
| Tip đã dùng | chỉ một loại E60 (20 × 30 mm) | tầng giữa · tầng dưới mặt E60 / tầng trên mặt E10 (10 × 10 mm) + E5 (10 × 5 mm) |
| Số shot | 300~677 shot mỗi buổi (trung bình 568.8) | tầng dưới 300 + tầng trên 300 = 600 shot (E60 300 · E10 200 · E5 100) |
| Tổng năng lượng | trung bình 56.4 kJ mỗi buổi | 24~36 kJ cho 300 shot tầng dưới mặt (80~120 J mỗi shot) |
| Kỹ thuật | gliding · stamping · kết hợp, tùy vùng | tầng dưới mặt gliding 50% + stamping 50%, tầng trên mặt 100% stamping |
Cùng một chữ “600 shot” mà bên này nghĩa là làm cả gương mặt bằng một tip lớn, bên kia nghĩa là chia ra ba loại tip. Diện tích tip khác nhau thì dù cùng số shot, diện tích thực sự được đưa nhiệt vào chênh nhau mấy lần. Vì vậy trong buổi tư vấn chúng tôi không chỉ nói số shot mà ghi kèm dùng tip nào, vào vùng nào, bao nhiêu shot. Chuyện này chúng tôi đã ghi kỹ ở con số “bao nhiêu shot” thực chất là gì và tip effector đổi thì cái gì đổi theo.
Vẫn chưa có nghiên cứu trên người nào phân ngẫu nhiên số shot để so sánh. Các con số ở trên là ghi chép “trong nghiên cứu này thực tế đã dùng như thế” chứ không phải căn cứ nói “chừng này là hợp lý”.
Đau — hai nghiên cứu báo cáo con số gần như nhau
Ở điều kiện không gây tê, con số là trung bình 4.2/10 (39 người) và 4.31 ± 1.71 (16 người). Việc giá trị ra từ hai nước khác nhau · hai quy trình khác nhau lại gần nhau là điều đáng tham khảo. Có điều quý vị phải nhìn cả phân bố — trong nghiên cứu 16 người, mức nhẹ (từ 3 điểm trở xuống) là 38%, mức trung bình là 50%, và đau nặng từ 7 điểm trở lên cũng có 12% (2 người). Trung bình ở mức 4 điểm không có nghĩa là ai cũng thấy 4 điểm.
Nghiên cứu ở Mỹ có mô tả rằng con số này thấp hơn mức đau trung bình được báo cáo ở dòng Thermage (CPT 6.06, FLX 6.9 — con số sau là đã dùng thuốc giảm đau trước). Có điều chính các tác giả đã nói thêm rằng “việc so sánh giữa những nghiên cứu khác nhau về thiết kế và điều kiện có hạn chế mang tính bản chất”. Chúng tôi cũng không chuyển phép so sánh này thành khẳng định “ít đau hơn”.
Những gì vẫn chưa được xác nhận
- Không có lấy một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nào. Cả ba bài tư liệu trên người đều không có nhóm chứng.
- Không có căn cứ về thời gian duy trì. Thời gian theo dõi dài nhất là 90 ngày, còn ảnh 6 tháng thì được đưa ra như trường hợp của một người bệnh và chính các tác giả ghi rõ là không đưa vào phân tích.
- Số cấp phép sản phẩm trong nước thì chúng tôi không xác nhận được. Tra cứu ở MFDS (Bộ An toàn Thực phẩm và Dược phẩm Hàn Quốc) bị chặn và trang chính thức của nhà sản xuất cũng không có. Thứ xác nhận được chỉ là số thẩm định quảng cáo thiết bị y tế. Khác biệt giữa số cấp phép sản phẩm và số thẩm định quảng cáo, chúng tôi đã ghi ở số cấp phép sản phẩm và số thẩm định quảng cáo là hai thứ khác nhau.
- Cách nói “FDA phê duyệt” là không chính xác. Thứ đã thông qua ở Mỹ là 510(k), và mục đích sử dụng đó không phải nâng cơ mà là điện đông và cầm máu, còn hồ sơ nộp thì không bao gồm tư liệu thử nghiệm lâm sàng. Quy định liên bang Mỹ 21 CFR 807.97 xác định là ghi nhãn sai đối với việc diễn đạt việc thông qua 510(k) như thể là “phê duyệt”.
- Không có tư liệu nào đo trực tiếp trên người xem nhiệt đã đi tới độ sâu nào. Mọi giải thích về độ sâu đều ra từ mô phỏng máy tính và tư liệu trên động vật, và chính các tác giả của những nghiên cứu mới cũng ghi điều này là một hạn chế.
Năm điều nên hỏi trong buổi tư vấn
Đây là những câu hỏi quý vị có thể hỏi ở bất kỳ cơ sở y tế nào. Nếu câu trả lời cụ thể và đó là nơi nói không biết khi không biết thì sẽ giúp ích cho việc phán đoán.
- “Dùng tip nào, vào vùng nào, bao nhiêu shot?” — chỉ với số shot thì không so sánh được giữa các phòng khám.
- “Kế hoạch này đặt trên tiền đề làm mấy buổi?” — tư liệu công khai đang lẫn cả loại 1 buổi lẫn loại 2 buổi.
- “Con số hiệu quả đó do ai chấm?” — người đánh giá làm mù, hay chính bác sĩ làm thủ thuật, hay người bệnh tự báo cáo.
- “Căn cứ về thời gian duy trì là gì?” — thời gian theo dõi thực tế có đúng chừng ấy không, hay đó là ước đoán.
- “Nếu có lý do không khuyên tôi làm thì đó là gì?” — lời giải thích không nói tới hạn chế thì không thành vật liệu để phán đoán.
Cái đã xác nhận / cái suy ra được / cái chưa xác nhận được / tư liệu theo hướng ngược lại
| Phân loại | Nội dung |
|---|---|
| Cái đã xác nhận | Tư liệu trên người đã thành ba bài (20 người · 39 người · 16 người). Trong nghiên cứu đa trung tâm 39 người, GAIS do bác sĩ đánh giá từ 3 điểm trở lên là 92.3% ở ngày 90, đau khi không gây tê trung bình 4.2/10, mỗi buổi trung bình 568.8 shot · 56.4 kJ. Trong nghiên cứu hồi cứu 16 người, đau 4.31 ± 1.71, đo chân mày · mi mắt ở 3 tháng nâng lên 1.11~1.44 mm. Dòng ghi xung đột lợi ích của bài mô học trên lợn năm 2024 đã được đính chính từ “không có” thành “7 tác giả là nhân viên của nhà sản xuất”. |
| Cái suy ra được | Việc giá trị đau ra gần nhau ở mức 4 điểm dù ở hai nước khác nhau · hai quy trình khác nhau trông có vẻ có liên quan tới thiết kế của thiết bị (xung chia nhỏ và làm mát), nhưng đây là cách hiểu của chúng tôi và không phải điều đã được xác nhận bằng thử nghiệm so sánh. Việc quy trình của hai nghiên cứu khác nhau đến vậy mà mức hài lòng lại tương tự thì gợi ý khả năng bản thân số shot không phải là biến quyết định kết quả, nhưng đây cũng là suy luận. |
| Cái chưa xác nhận được | Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng. Tính ưu việt so với thiết bị đơn tần số (chính các tác giả ghi là không thể kết luận). Thời gian duy trì vượt quá 90 ngày. Số cấp phép sản phẩm trong nước. Độ sâu nhiệt đi tới trên người. Giá trị hợp lý của số shot · số buổi. |
| Tư liệu theo hướng ngược lại | Trong nghiên cứu 16 người, phần thể tích tăng ở vùng ngoài xuất hiện ngay sau thủ thuật thì tới 3 tháng đã mất ý nghĩa thống kê, và thay đổi thể tích thuần khi gộp trái phải cũng không có ý nghĩa ở 3 tháng. Mức nâng chân mày cũng chia hai bên vì giá trị bên phải không có ý nghĩa. Người bệnh tự đánh giá (PGAIS) là 3.13 · 3.31 trên thang 5 điểm, tức nằm ở khoảng “cải thiện nhẹ” của thang đo. Điểm hài lòng ở 3 tháng (61.00) cũng xuống thấp hơn ở 1 tháng (64.06). |
Câu hỏi thường gặp
Ở Daegu thì phòng khám nào làm XERF giỏi?
Không có chỉ số công khai nào so sánh tay nghề của người làm thủ thuật, nên đây là câu hỏi mà tư liệu không trả lời được. Đánh giá của khách thì theo luật quảng cáo y tế không thành căn cứ về hiệu quả, và số ca đã làm không phải là cùng một thứ với độ thành thạo. Thay vào đó, quý vị hãy hỏi “dùng tip nào, vào vùng nào, bao nhiêu shot” và “kế hoạch này đặt trên tiền đề làm mấy buổi”, rồi chọn nơi trả lời cụ thể mà vẫn nói kèm cả hạn chế thì hơn.
XERF thì phải làm bao nhiêu shot?
Không có nghiên cứu trên người nào phân ngẫu nhiên số shot hợp lý để so sánh. Con số mà hai nghiên cứu ra trong năm 2026 thực tế đã dùng là 300~677 shot mỗi buổi (trung bình 568.8, chỉ dùng một tip lớn) và 600 shot (chia ra ba loại tip). Tip khác nhau thì dù cùng số shot, diện tích được đưa nhiệt vào cũng khác. Vì vậy chỉ với “bao nhiêu shot” thì việc so sánh giữa các phòng khám không thành lập, và quý vị phải xác nhận kèm là dùng tip nào, vào đâu, bao nhiêu shot.
XERF có ít đau hơn Thermage không?
Chúng tôi không tìm được thử nghiệm nào so sánh trực tiếp hai thứ trong cùng điều kiện. Mức đau trung bình khi không gây tê được báo cáo ở từng nghiên cứu là XERF 4.2 và 4.31, dòng Thermage 6.06 và 6.9 (con số sau bao gồm việc dùng thuốc giảm đau trước). Có điều chính các tác giả của bài báo dẫn phép so sánh này đã ghi rằng “việc so sánh giữa những nghiên cứu khác nhau về thiết kế và điều kiện có hạn chế mang tính bản chất”. Ngoài ra, dù trung bình ở mức 4 điểm thì trong 16 người vẫn có 2 người từ 7 điểm trở lên.
Hiệu quả giữ được bao lâu?
Thời gian theo dõi dài nhất trong tư liệu chúng tôi xác nhận được là 90 ngày. Có một bài đăng kèm ảnh 6 tháng, nhưng chính các tác giả bài đó ghi rõ “đây là trường hợp của một người bệnh và không được đưa vào phân tích”. Nghĩa là căn cứ cho câu “giữ được mấy tháng” thì chúng tôi vẫn chưa có. Chúng tôi không nói con số chưa được xác nhận như thể là giá trị đã xác định.
Đây có phải thiết bị đã được FDA phê duyệt không?
Cách nói “phê duyệt” là không chính xác. Thứ đã thông qua ở Mỹ là 510(k), và đó là phán định rằng thiết bị tương đương về thực chất với thiết bị đã có. Hơn nữa mục đích sử dụng đó không phải nâng cơ mà là điện đông và cầm máu, còn hồ sơ nộp thì không bao gồm tư liệu thử nghiệm lâm sàng. Quy định liên bang Mỹ 21 CFR 807.97 xác định việc diễn đạt việc thông qua 510(k) như thể là phê duyệt là ghi nhãn sai. Chi tiết chúng tôi đã ghi ở bằng chứng của XERF đã đến đâu.
Làm một lần là được, hay phải làm nhiều lần?
Tư liệu công khai đang chia hai ngả. Nghiên cứu hồi cứu 16 người chỉ làm 1 buổi rồi theo dõi 3 tháng, còn nghiên cứu đa trung tâm 39 người thì làm 2 buổi (cách nhau 4 tuần). Cả hai nghiên cứu đều không phân ngẫu nhiên số buổi để so sánh mà là thiết kế đã định sẵn trước khi bắt đầu, nên không dùng làm căn cứ nói bên nào tốt hơn được. Chúng tôi nhìn tình trạng gương mặt và mục tiêu để quyết định, và khi quyết định thì nói kèm cả việc căn cứ cho quyết định đó đi tới đâu.
Cơ sở y tế biên soạn
Bài viết này do Bác sĩ Lee Chi-Hak, giám đốc y khoa Phòng khám Miso tại Daegu, Hàn Quốc biên soạn và rà soát. Các nghiên cứu được trích dẫn trong bài đều được ghi kèm cả thiết kế, quy mô lẫn giới hạn mà chính tác giả đã nêu, và những mục chúng tôi không tìm được tài liệu thì được ghi là không tìm được.
| Giám đốc y khoa | Bác sĩ Lee Chi-Hak |
|---|---|
| Địa chỉ | Tầng 4, tòa nhà Bombom, 125 Dongdeok-ro, Jung-gu, Daegu, Hàn Quốc (lối ra số 1 ga Kyungpook National University Hospital) |
| Điện thoại | +82-53-428-2700 |
| Giờ khám | Ngày thường 11:00~19:00 (nghỉ trưa 13:00~14:00) / Thứ Bảy 10:00~16:00 (khám liên tục, không nghỉ trưa) / Chủ Nhật · ngày lễ nghỉ |
| Chuyên mục lâm sàng | Xem toàn bộ bài viết |
| Thư viện tài liệu lâm sàng | Xem toàn bộ tài liệu về chất kích thích tạo collagen · thiết bị nâng cơ |
Tài liệu tham khảo
- Mới — tiến cứu đa trung tâm 39 người — Weiss RA, Wang J, DiBernardo B, Bhatia AC, Cureus 2026;18(3):e104546, PMID 41930066, DOI 10.7759/cureus.104546. 4 cơ sở · 39 người (nữ 37 · nam 2) · 28~70 tuổi (trung bình 54.4) · Fitzpatrick I~IV · toàn bộ làm 2 buổi (cách nhau 4 tuần) · chỉ dùng EFFECTOR 60 · 300~677 shot mỗi buổi (trung bình 568.8) · tổng năng lượng trung bình 56,391 J (bài báo ghi 100.7 J mỗi shot, nhưng lấy tổng lượng chia cho số shot thì ra 99.1 J, hai con số không khớp nhau) · đau khi không gây tê trung bình 4.2/10. GAIS từ 3 điểm trở lên: ngày 30 là 33/39 (84.6%) · ngày 90 là 36/39 (92.3%). Không có nhóm chứng · không làm mù và nghiên cứu viên chính đã làm thủ thuật là người chấm GAIS · theo dõi 90 ngày · nhà sản xuất cung cấp thiết bị · hỗ trợ nghiên cứu · quản lý dữ liệu · lập trình thống kê. Giá trị p không phải so với giả dược mà là kiểm định nhị thức chính xác một phía hậu định đối với tỷ lệ chuẩn 70%, và các tác giả đã ghi là “thăm dò”.
- Mới — hồi cứu 16 người đo 3D — Erlich G, Dahan E, Wolf Y, Lasers in Medical Science 2026;41(1), PMID 42611100, DOI 10.1007/s10103-026-04996-0. Phân tích hồi cứu phần thủ thuật làm trong tháng 1 năm 2026 tại phòng khám của chính tác giả thứ nhất · 16 phụ nữ · tuổi trung vị 54.5 (25~73) · làm 1 buổi · 3 tháng. Đau VAS 4.31 ± 1.71 (từ 3 điểm trở xuống 38% · 4~6 điểm 50% · từ 7 điểm trở lên 12%). Đo chân mày · mi mắt ở 3 tháng +1.11~1.44 mm (riêng giá trị góc mắt ngoài bên phải p=0.562, không có ý nghĩa). Không có nhóm chứng · các tác giả ghi rõ là không so với thiết bị đơn tần số nên không thể kết luận về tính ưu việt · chỉ số tái phân bố thể tích là chỉ số thay thế chứ không phải chỉ số chuẩn đã được thẩm định. Ảnh 6 tháng là trường hợp của 1 người bệnh và không được đưa vào phân tích.
- Báo cáo quy trình tip nhỏ vùng quanh hốc mắt — Erlich G, Dahan E, Skorochod R, Wolf Y, Cureus 2026;18(1):e101187, PMID 41523730, DOI 10.7759/cureus.101187. Tài liệu này chúng tôi không tính vào số bài bằng chứng — vì chính các tác giả đã ghi rằng “quan sát mang tính giai thoại và không được trình bày như kết quả định lượng”, “không được diễn giải thành kết luận dựa trên bằng chứng”. Có điều đây là tư liệu xác nhận cho chúng tôi sự tồn tại của các tip nhỏ mới (E10 · E5).
- ★ Thông báo đính chính xung đột lợi ích — Skin Research and Technology 2026;32(3):e70335, PMID 41749463, DOI 10.1111/srt.70335. Bài gốc là Hong J và cộng sự, cùng tạp chí, 2024;30(6):e13821 (mô học trên lợn, DOI 10.1111/srt.13821), và là bài mà bài số 40 của chúng tôi đã dẫn làm tư liệu tiền lâm sàng. Ban đầu đăng với dòng “Các tác giả không có xung đột lợi ích nào phải khai báo”, sau đó được đính chính thành “J.H., H.G.R., C.P., J.P., K.K., K.M.M.L., S.I.C. là nhân viên của Cynosure Lutronic, nhà sản xuất thiết bị sóng cao tần monopolar được đánh giá trong nghiên cứu này”.
- Cũ — nghiên cứu lâm sàng 20 người trong nước — Hwang JK, Medical Lasers 2025;14(1):23–30, DOI 10.25289/ML.24.035. 20 người · 28~63 tuổi · Fitzpatrick III~IV · làm 1 buổi · 12 tuần. Người đánh giá làm mù nhận đúng ảnh sau thủ thuật 80%, GAIS trung bình 2.75/4, mức hài lòng của người bệnh 7.84/10, đau VAS 4~5 (không gây tê), không có biến cố bất lợi. Không có nhóm chứng · một cơ sở · n=20 · làm 1 buổi · 12 tuần, và tạp chí đăng bài được lập chỉ mục ở KCI · KoreaMed chứ không được lập chỉ mục ở PubMed/MEDLINE · SCIE.
- 510(k) của Mỹ và chữ “phê duyệt” — FDA 510(k) K251327 (quyết định 2025-08-11, Substantially Equivalent, product code GEI, Class II, thiết bị dùng để so sánh Thermage FLX K170758). Trong nguyên văn bản tóm tắt có ghi “bản nộp này không bao gồm thử nghiệm lâm sàng”, và câu ghi mục đích sử dụng ở Mỹ là điện đông và cầm máu. Quy định liên bang Mỹ 21 CFR 807.97 quy định rằng việc thông qua 510(k) “không có nghĩa là được phê duyệt chính thức, và cách diễn đạt tạo ấn tượng là đã được phê duyệt là gây hiểu lầm và là ghi nhãn sai”.
- Pháp luật liên quan đến quảng cáo y tế — Điều 56 khoản 2 «Luật Y tế» Hàn Quốc (điều khoản quản lý quảng cáo y tế). Điều này cấm quảng cáo thông qua lời kể trải nghiệm điều trị, việc so sánh với cơ sở y tế khác, cách nói ở cấp độ cao nhất, v.v. Đó là lý do trong chuyên mục này chúng tôi không đặt những cách nói như “làm giỏi” · “tốt nhất”, không so sánh với cơ sở y tế khác, và không ghi giá · khuyến mãi.
Mọi bài viết trong chuyên mục này nhằm cung cấp thông tin chung và không thay thế cho chẩn đoán hay điều trị y khoa. Hiệu quả và tác dụng không mong muốn của thủ thuật có thể biểu hiện khác nhau tùy theo tình trạng da, độ tuổi và bệnh nền của từng người, và không bảo đảm kết quả giống nhau cho mọi người. Việc có thực hiện thủ thuật hay không nhất định phải được quyết định thông qua buổi khám trực tiếp với nhân viên y tế.
← Chuyên mục lâm sàng · Thư viện tài liệu lâm sàng · Trang chủ Phòng khám Miso
한국어 · English · 日本語 · 简体中文 · Español · Tiếng Việt · ภาษาไทย · Bahasa Indonesia